• KIẾN THỨC SEO
  • BLOG SERIER
  • SEO BLOGSPOT
  • TEMPLATE BLOGSPOT
  • ICON FACEBOOK
MENU

CHEMISTRY STUDY - CHEMISTRY BOOKS

Menu
  • Home
  • #Web Tools
    • Giải Mã
    • Mã Hóa
    • Chuyển đổi code
    • Lấy mã màu
  • Liên Hệ
  • #Dịch Vụ
    • Rip Blogspot
    • Rip Wordpress
  • Site map
  • #Giới Thiệu
    • Admin
    • Blog
  • Liên Kết
  • Hỏi Đáp
hóa học và đời sống
Hiển thị các bài đăng có nhãn hóa học và đời sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Câu hỏi và bài tập trắc nghiệm hóa học với vấn đề môi trường

Câu hỏi và bài tập trắc nghiệm hóa học với vấn đề môi trường

cngdirdet2022@gmail.com 18:07 0
cngdirdet2022@gmail.com

Chuyên đề hóa học với vấn đề môi trường trong ôn thi đại học



Download here

Màu của một số chất hóa học phổ biến nên biết

cngdirdet2022@gmail.com 18:06 0
cngdirdet2022@gmail.com

Màu của một số chất hóa học phổ biến nên biết

Màu của các nguyên tố hóa học

Bao gồm:

Màu sắc của các chất hoá học
Màu Của Một Số Chất Vô Cơ Oxit, Muối,Hiđroxit
Các chất kết tủa thường gặp và màu sắc của chúng
Màu của các nguyên tố hóa học

Màu sắc Hợp chất của Nhôm

6. Al2O3: màu trắng
7. AlCl3: dung dịch ko màu, tinh thể màu trắng, thường ngả màu vàng nhạt vì lẫn FeCl3
8. Al(OH)3: kết tủa trắng
9. Al2(SO4)3: màu trắng.
Sắt 10. Fe: màu trắng xám 11. FeS: màu đen 12. Fe(OH)2: kết tủa trắng xanh 13. Fe(OH)3: nâu đỏ, kết tủa nâu đỏ 14. FeCl2: dung dịch lục nhạt
15. Fe3O4(rắn): màu nâu đen 16. FeCl3: dung dịch vàng nâu 17. Fe2O3: đỏ 18. FeO : đen. 19. FeSO4.7H2O: xanh lục.
20. Fe(SCN)3: đỏ máu

Màu sắc Hợp chất của Đồng

21. Cu: màu đỏ
22. Cu(NO3)2: dung dịch xanh lam
23. CuCl2: tinh thể có màu nâu, dung dịch xanh lá cây
24. CuSO4: tinh thể khan màu trắng, tinh thể ngậm nước màu xanh lam, dung dịch xanh lam
25. Cu2O: đỏ gạch.
26. Cu(OH)2 kết tủa xanh lơ (xanh da trời)
27. CuO: màu đen
28. Phức của Cu2+: luôn màu xanh.

Màu sắc Hợp chất của Mangan

29. MnCl2 : dung dịch: xanh lục; tinh thể: đỏ nhạt.
30. MnO2 : kết tủa màu đen.
31. Mn(OH)4 : nâu

Màu sắc Hợp chất của Kẽm

32. ZnCl2 : bột trắng
33. Zn3P2: tinh thể nâu xám
34. ZnSO4: dung dịch không màu

Màu sắc Hợp chất của Crom

35. Cr2O3 : đỏ sẫm. 36. CrCl2 : lục sẫm.
37. K2Cr2O7: đỏ da cam.
38. K2CrO4: vàng cam

Màu sắc Hợp chất của Bạc

39. Ag3PO4: kết tủa vàng
40. AgCl: trắng.
41. Ag2CrO4: đỏ gạch

Màu của một số hợp chất khác

42. As2S3, As2S5 : vàng
43. Mg(OH)2 : kết tủa màu trắng
44. B12C3 (bo cacbua): màu đen.
45. Ga(OH)3, GaOOH: kết tủa nhày, màu trắng
46 .GaI3 : màu vàng
47. InI3: màu vàng
48. In(OH)3: kết tủa nhày, màu trắng.
49. Tl(OH)3, TlOOH: kết tủa nhày, màu hung đỏ
50. TlI3: màu đen
51. Tl2O: bột màu đen
52. TlOH: dạng tinh thể màu vàng
53. PbI2 : vàng tươi, tan nhiều trong nước nóng
54. Au2O3: nâu đen.
55. Hg2I2 ; vàng lục
56. Hg2CrO4 : đỏ
57. P2O5(rắn): màu trắng
58. NO(k): hóa nâu trong ko khí
59. NH3 làm quỳ tím ẩm hóa xanh
60. Kết tủa trinitrat toluen màu vàng.
61. Kết tủa trinitrat phenol màu trắng.

Phương pháp định tính bằng ngọn lửa - Xác định nguyên tố hóa học dựa trên màu sắc phát ra khi đốt trên ngọn lửa đèn cồn

Màu của ngọn lửa 

62. Muối của Li cháy với ngọn lửa đỏ tía 
63. Muối Na ngọn lửa màu vàng
64. Muối K ngọn lửa màu tím 65. Muối Ba khi cháy có màu lục vàng
66. Muối Ca khi cháy có ngọn lửa màu cam

Phương pháp định tính bằng ngọn lửa

Để thực hiện test với ngọn lửa, ta chỉ cần sử dụng một dây kim loại sạch hoặc một nẹp gỗ sạch nhúng vào dung dịch mẫu hoặc phủ lên dụng cụ thử một lớp muối dạng bột. Khi đốt nóng mẫu trên ngọn lửa đèn cồn hoặc đèn khí, ta có thể quan sát được màu sắc đặc trưng của phổ phát xạ. Lưu ý là nếu dùng nẹp gỗ thì ta cần tránh để nẹp gỗ bị cháy. Nếu dùng dây kim loại, ta cần làm sạch nó bằng cách nhúng nó vào acid hydrochloric, tiếp theo là rửa trong nước cất giữa những lần thí nghiệm. Màu của ngọn lửa mẫu được so sánh với các màu sắc ngọn lửa đặc trưng các kim loại đã được biết đến.

Một số màu đặc trưng

Màu đỏ tươi: liti
Màu tím tử đinh hương: kali
Màu xanh da trời: selen
Màu xanh lam: asen, xezi, đồng (I), indi, chì
Màu lam ngả lục: đồng (II) halogenua, kẽm
Màu lam nhạt ngả lục: phoshorus
Màu xanh lá cây: đồng (II) không halogen, tali
Màu lục sáng: bo
Màu xanh táo nhạt: bari
Màu lục nhạt: antimon, telua
Màu vàng ngả lục: mangan (II), molypden
Màu vàng đậm: natri
Màu vàng: sắt
Màu da cam ngả đỏ: canxi
Màu đỏ: rubidi
Màu đỏ thẫm: stronti
Màu sáng trắng: magiê

Các màu sắc của các muối kim loại khi cháy được ứng dụng làm pháo hoa

Màu của các nguyên tố

67. Li-màu trắng bạc
68. Na-màu trắng bạc
69. Mg-màu trắng bạc
70. K-có màu trắng bạc khi bề mặt sạch
71. Ca-màu xám bạc
72. B-Có hai dạng thù hình của bo; bo vô định hình là chất bột màu nâu, nhưng bo kim loại thì có màu đen
73. N2 :là một chất khí ở dạng phân tử không màu
74. O2 :khí không màu
75. F2 ;khí màu vàng lục nhạt
76. Al-màu trắng bạc
77. Si-màu xám sẫm ánh xanh
78. P:tồn tại dưới ba dạng thù hình cơ bản có màu: trắng, đỏ và đen
79. S-vàng chanh
80. Cl2 khí màu vàng lục nhạt
81. Iot (rắn): màu tím than
82. Cr màu trắng bạc
83. Mn kim loại màu trắng bạc
84. Fe-kim loại màu xám nhẹ ánh kim
85. Cu-kim loại có màu vàng ánh đỏ
86. Zn-kim loại màu xám nhạt ánh lam
87. Ba-kim loại trắng bạc
88. Hg-kim loại trắng bạc
89. Pb-kim loại trắng xám

Màu của ion trong dung dịch

90. Mn2+: vàng nhạt
91. Zn2+: trắng 
92. Al3+: trắng
93. Cu2+ có màu xanh lam 
94. Cu1+ có màu đỏ gạch 
95. Fe3+ màu đỏ nâu
96. Fe2+ màu trắng xanh
97. Ni2+ lục nhạt
98. Cr3+ màu lục
99. Co2+ màu hồng
100. MnO4- màu tím
101. CrO42- màu vàng

Nhận dạng theo màu sắc

102. Đen: CuS ,FeS ,Fe2S3 ,Ag2S ,PbS ,HgS, CdS
103. Hồng: MnS
104. Trắng: ZnS, BaSO4, SrSO4, CaSO4, PbSO4, ZnS[NH2Hg]Cl
105. Nâu: SnS
106. Vàng: CdS, BaCrO4, PbCrO4, (NH4)3[PMo12O40], (NH4)3[P(Mo2O7)4]
107. Vàng nhạt: AgI (ko tan trong NH3 đặc chỉ tan trong dd KCN và Na2S2O3 vì tạo phức tan Ag(CN)2- và Ag(S2O3)3)
Chuyện kể: Kim loại nhẹ nhất trong số các kim loại - Li

Chuyện kể: Kim loại nhẹ nhất trong số các kim loại - Li

cngdirdet2022@gmail.com 01:33 0
cngdirdet2022@gmail.com

[Hóa học vui] Kim loại nhẹ nhất trong số các kim loại

         Năm 1967, liti - nguyên tố đứng đầu tiên trong  số  các  kim loại trong Hệ thống tuần hoàn của Đ.I. Menđeleep đã kỷ niệm 150 năm ngày nó được tìm ra. Lễ kỷ niệm này diễn ra lúc liti đang ở buổi sung sức: hoạt động của nó trong kỹ thuật hiện đại thật là thú vị và nhiều mặt. Thế mà các nhà chuyên môn vẫn cho rằng, liti vẫn hoàn toàn chưa bộc lộ hết mọi khả năng của mình và họ tiên đoán cho nó một tiền đồ rộng lớn. Nhưng, mời bạn, chúng ta hãy thực hiện một cuộc du lãm vào thế kỷ vừa qua, hãy ngó vào phòng thí nghiệm tĩnh mịch của nhà hóa học

... Đó là ngày mà nhà bác học tiến hành phân tích khoáng vật petalit tìm được ở mỏ Uto gần Stockholm. Ông đã kiểm tra đi kiểm tra lại những kết quả phân tích, nhưng cứ mỗi lần như vậy, ông đều chỉ nhận được tổng số các thành phần là 96%. Vậy thì mất vào đâu 4%? Sẽ ra sao nếu như...? Phải rồi, không còn nghi ngờ gì nữa: khoáng vật này có chứa một nguyên tố mới mà từ trước tới nay chưa có ai biết. Acfvetxơn làm hết thí nghiệm này đến thí nghiệm khác và cuối cùng đã đạt được mục đích: một kim loại kiềm mới đã được phát hiện. Bởi vì, khác với những “người họ hàng” gần gũi của mình - kali và natri mà lần đầu tiên được tìm thấy trong các sản phẩm hữu cơ, nguyên tố mới này được phát hiện trong một khoáng vật, nên nhà bác học đã quyết định gọi nó là liti (theo tiếng Hy Lạp, “liteos” nghĩa là đá)
Ít lâu sau, Acfvetxơn lại tìm thấy nguyên tố này trong các khoáng vật khác, còn nhà hóa học Thụy Điển nổi tiếng Berzelius thì lại phát hiện ra nó trong nước khoáng ở Cacxbat và ở Mariebat. Nhân đây cũng nói thêm rằng, ngày nay, các nguồn nước suối chữa bệnh ở Visi (nước Pháp) sở dĩ nổi tiếng khắp nơi về những tính chất chữa bệnh rất tốt chính là vì trong đó có các muối liti.

Năm 1818, nhà bác học người Anh là Humphry Davy lần đầu tiên đã tách được những hạt liti tinh khiết bằng cách điện phân hiđroxit của nó, rồi đến năm 1855, một cách độc lập với nhau, nhà hoa học Robert Bunsen người Đức và nhà vật lý học Matissen người Anh đã điều chế được liti nguyên chất bằng cách điện phân liti clorua nóng chảy. Đó là một kim loại mềm, trắng như bạc, nhẹ hơn nước gần hai lần. Về mặt này thì liti không gặp một đối thủ nào trong số các kim loại: nhôm nặng hơn nó năm lần, sắt - 15 lần, chì - 20 lần, còn osimi - 40 lần!

Ngay ở nhiệt độ trong phòng, liti cũng phản ứng mãnh liệt với oxi và nitơ của không khí. Bạn hãy thử để một mẩu liti trong bình thủy tinh có nút mài nhám. Mẩu kim loại này sẽ hút hết không khí có trong bình: trong bình xuất hiện chân không và áp suất khí quyển “ấn” vào nút mạnh tới nỗi các bạn khó mà kéo nó ra được. Vì vậy, bảo quản liti là một việc khá phức tạp. Nếu như natri chẳng hạn, có thể bảo quản dễ dàng trong dầu hoả hoặc xăng, thì đối với liti, không thể dùng cách ấy được, vì nó sẽ nổi lên và bốc cháy ngay tức khắc. Để bảo quản các thỏi liti, người ta thường dìm chúng vào trong bể chứa vazơlin hoặc parafin, những chất này bao quanh kim loại và không cho nó bộc lộ tính “háu” phản ứng của mình.
Liti còn kết hợp mạnh mẽ hơn với hiđro. Chỉ một lượng nhỏ kim loại này cũng có thể liên kết với một thể tích hiđrô rất lớn: trong 1 kilôgam liti hiđrua có 2.800 lít khí hiđro! Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ 2, các viên phi công Mỹ đã dùng những viên liti hiđrua làm nguồn hiđrô mang theo bên mình. Họ sử dụng chúng khi gặp nạn ngoài biển: dưới tác dụng của nước, các viên này phân rã ngay lập tức, bơm đầy khí hiđro vào các phương tiện cấp cứu như thuyền cao su, áo phao, bóng-angten tín hiệu.
    Các hợp chất của liti có khả năng hút ẩm cực mạnh, điều đó khiến cho chúng được sử dụng rộng rãi để làm sạch không khí trong tàu ngầm, trong các bình thở trên máy bay, trong  các hệ thống điều hòa không khí.
    Bước vào thế kỷ XX, liti mới được bắt đầu sử dụng trong công nghiệp. Còn trong gần một trăm năm trước đó thì chủ yếu người ta dùng nó trong y học để làm thuốc chữa bệnh thống phong.
Trong thời gian Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nước Đức rất cần thiết để sử dụng trong công nghiệp. Do nước này không có quặng thiếc nên các nhà bác học phải cấp tốc tìm kim loại khác để thay thế. Nhờ có liti nên vấn đề này đã được giải quyết một cách tốt đẹp: hợp kim của chì với liti là một vật liệu chống ma sát tuyệt với. Từ đó trở đi, các hợp kim liti luôn gắn liền với các ngành kỹ thuật. Đã có những hợp kim của liti với nhôm, với berili, với đồng, kẽm, bạc và với nhiều nguyên tố khác. Những triển vọng hết sức to lớn đã rộng mở cho các hợp kim của liti với magiê - một kim loại nhẹ khác có tính chất kết cấu rất tốt: nếu liti chiếm ưu thế thì hợp chất đó sẽ nhẹ hơn nước. Nhưng rủi thay, các hợp kim có thành phần như vậy lại không bền vững, rất dễ bị oxi hóa trong không khí. Từ lâu, các nhà bác học đã ao ước tạo nên một sự phối trí và một công nghệ bảo đảm được tính bền lâu cho các hợp kim liti - magiê. Các nhà khoa học ở Viện luyện kim mang tên A. A. Baicôp thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô đã giải quyết được bài toán đó: bằng lò nồi chân không nung bằng điện trong môi trường khí trơ agon, họ đã điều chế được hợp kim của liti với magie mà không bị mờ xám trong không khí và nhẹ hơn nước.

       Nhiều tính chất quý báu của liti như khả năng phản ứng cao, nhiệt độ nóng chảy thấp (chỉ 180,5 độ c), mật độ các hợp chất hóa học của nó nhỏ, đã khiến cho nguyên tố này được tham gia vào nhiều quá trình công nghệ trong luyện kim đen và luyện kim màu. Chẳng hạn nó đóng vai trò chất khử khí và khử oxi một cách xuất sắc - nó xua đuổi các chất khí như nitơ, oxi ra khỏi các kim loại đang nóng chảy. Nhờ có liti mà cấu trúc của một số hợp kim trở nên mịn hạt, do đó mà những tính chất cơ học của chúng trở nên tốt hơn. Trong sản xuất nhôm, liti thực hiện rất tốt vai trò chất thúc đẩy quá trình. Pha thêm các hợp chất của liti vào chất điện phân sẽ nâng cao được năng suất của bể điện phân nhôm; khi đó, nhiệt độ cần thiết của bể sẽ giảm xuống và tốn phí điện năng sẽ giảm rõ rệt.

     Trước kia, chất điện phân của ăcquy kiềm chỉ gồm các dung dịch xút ăn da (NaOH). Nhưng nếu pha thêm vào chất điện phân này vài gam liti hiđroxit (LiOH) thì tuổi thọ của ăcquy sẽ tăng lên ba lần. Ngoài ra, khoảng nhiệt độ của ăcquy cũng được mở rộng thêm: nó không phóng điện ngay cả khi nhiệt độ lên tới 40 độ C  và ở hai chục độ âm vẫn không bị đông đặc. Chất điện phân không có liti thì không chịu đựng được những thử thách như vậy. Nhật Bản đã chế tạo được loại ăcquy tí hon độc đáo dùng cho các đồng hồ điện tử đeo tay: bề dày của ăcquy chỉ bằng 34 micron, nghĩa là mảnh hơn sợi tóc, trong đó, cực dương là một màng liti cực mỏng, còn cực âm thì làm bằng titan đisunfit. Thiết bị điện tinh vi này chịu đựng được 2000 chu kỳ nạp và phóng điện, mỗi lần nạp điện cho phép đồng hồ làm việc từ 200 - 300 giờ. Các công trình sư của các hãng chế tạo ô tô cũng đặt nhiều hy vọng không nhỏ vào liti. Chẳng hạn, ở Mỹ người ta đã chế tạo pin bằng liti dùng cho ô tô chạy bằng điện năng. Loại xe này có thể đạt tới tốc độ 100km/h và có thể chạy hàng trăm km mà không cần phải thay pin.
 
    Một số hợp chất hữu cơ của liti (stearat, panminat v. v... ) vẫn giữ nguyên được những tính chất vật lý của mình trong khoảng nhiệt độ rộng. Điều đó cho phép sử dụng chúng làm nền cho các vật liệu bôi trơn trong kỹ thuật quân sự. Chất bôi trơn có chứa liti giúp cho các xe chạy trên mọi địa hình đang làm việc ở Nam cực thực hiện được các hành trình vào sâu trong lục địa này, nơi mà nhiệt độ băng giá có khi thấp đến -80 độ C. Chất bôi trơn chứa liti là trợ thủ đắc lực cho những người đua ô tô. Những người chủ của loại xe ô tô “jiguli” tin chắc ở điều đó nên không phải ngẫu nhiên mà họ gọi nó là chất bôi trơn “vĩnh cửu”: Khi mới bắt đầu sử dụng, chỉ cần dùng nó để bôi trơn một lần cho các chi tiết hay cọ xát của ô tô, thế là nhiều năm sau không cần phải lặp lại công việc ấy nữa.

     Trong chúng ta chắc ai cũng đã nghe nói đến những phép lạ mà những người iôga Ấn Độ thường làm. Trước mặt đám công chúng đầy kinh ngạc, họ nhai chiếc cốc thủy tinh thành những mảnh nhỏ chẳng khác gì ăn chiếc bánh bích -quy bình thường, rồi lại còn nuốt chúng với vẻ thích thú, như thể trong đời họ chưa hề được ăn một thức gì ngon hơn. Còn bạn đã từng nếm thử thủy tinh chưa? “Câu hỏi thật quá vô lý! Tất nhiên là chưa!”. Có lẽ bất cứ người nào khi đọc này đều nghĩ như vậy. Như thế là nhầm rồi đấy. Thật ra thì thủy tinh thông thường vẫn hòa tan trong nước. Tất nhiên là không phải ở mức độ chẳng hạn như đường, nhưng dù sao nó vẫn bị hòa tan. Những chiếc cân phân tích chính xác nhất cho biết rằng, cùng với cốc nước chè nóng, chúng ta còn uống khoảng một phần vạn gram thủy tinh. Nhưng nếu khi nấu thủy tinh, ta pha thêm một ít muối lantan, muối ziriconi và muối liti thì độ hoà tan của nó trong nước sẽ giảm hàng trăm lần. Thuỷ tinh sẽ rất bền vững ngay cả đối với axit sunfuric.

    Hoạt động của liti trong ngành sản xuất thủy tinh không phải chỉ bó hẹp trong việc hạ thấp độ hòa tan của thủy tinh. Thủy tinh chứa liti được đặc trưng bởi những tính chất quang học rất quý giá, tính chịu nhiệt tốt, suất điện trở cao, mất mát điện môi ít. Đặc biệt, liti còn tham gia vào thành phần của thủy tinh dùng làm đèn hình trong các máy thu hình. Nếu ta xử lý kính cửa sổ thông thường trong các muối liti nóng chảy thì trên bề mặt của nó sẽ hình thành một lớp bảo vệ: kính sẽ bền gấp đôi và chịu đựng tốt hơn đối với nhiệt độ cao. Pha thêm một lượng nhỏ nguyên tố này cũng giảm được rất nhiều nhiệt độ nấu của thủy tinh.
Từ xa xưa, giọt sương được dùng làm biểu tượng cho tính trong suốt. Nhưng ngay cả những thứ thủy tinh trong suốt như giọt sương cũng không đáp ứng được nhu cầu của kỹ thuật hiện đại. Kỹ thuật hiện đại cần có những vật liệu quang học không những để cho các tia sáng nhìn thấy được bằng mắt thường xuyên qua, mà còn phải để cho các tia không nhìn thấy, chẳng hạn như tia tử ngoại cũng xuyên qua được. Với kính thiên văn thông thường, các nhà vật lý thiên văn không thể thu nhận được bức xạ của những thiên hà  ở  rất xa. Trong số  các  vật liệu mà bộ  môn quang học biết đến thì liti clorua có độ trong suốt cao nhất đối với tia tử ngoại. Các thấu kính làm bằng các đơn tinh thể của chất này cho phép các nhà nghiên cứu xâm nhập sâu thêm rất nhiều vào những bí mật của Vũ trụ.

Liti đóng vai trò không nhỏ trong việc sản xuất các loại men sứ, men sắt, các chất màu, đồ sứ và đồ sành có chất lượng cao. Trong công nghiệp dệt, một số hợp chất của nguyên tố này được dùng để tẩy trắng và cầm màu vải, còn một số chất khác thì dùng để nhuộm vải.
Các muối của liti rất quen thuộc với các nhà chế tạo và sử dụng thuốc nổ: chúng làm cho vệt đạn vạch đường và pháo sáng có màu xanh lục - lam rực rỡ.
Trò ảo thuật sau đây dựa trên khả năng hỏa thuật của liti. Bạn hãy dùng que diêm để đốt một cục đường nhỏ, và sẽ chẳng có điều gì xảy ra cả: đường bắt đầu nóng chảy nhưng không cháy. Còn nếu trước đó mà bạn xát miếng đường vào tàn thuốc lá thì nó sẽ bốc cháy dễ dàng với ngọn lửa màu xanh da trời rất đẹp. Sở  dĩ như vậy là vì trong thuốc lá cũng như trong nhiều thực vật khác, hàm lượng liti tương đối lớn. Khi đốt cháy thuốc là, một phần các hợp chất của liti vẫn còn lại trong tro tàn. Chính vì thế mà ta làm được trò ảo thuật đơn giản này.

Nhưng tất cả những gì vừa kể ở trên mới chỉ là những công việc thứ yếu, những “nghề phụ” của liti. Nó còn làm được những công việc quan trong hơn. Đây muốn nói đến ngành năng lượng học hạt nhân, ở đó, có thể chẳng bao lâu nữa liti sẽ bắt đầu đóng vai trò của một trong những “cây đàn vĩ cầm số một”. Các nhà bác học đã xác định được rằng, hạt nhân của đồng vị liti-6 có thể dễ bị nơtrôn phá vỡ. Khi hấp thụ nơtrôn, hạt nhân của liti trở nên kém bền vững và bị phân rã, kết quả là hai nguyên tử mới sẽ hình thành đó là khí trơ nhẹ heli và hiđrô siêu nặng  - triti  - cực kỳ hiếm. Ở nhiệt độ rất cao, các nguyên tử triti và đơteri (một đồng vị khác của hidro) sẽ kết hợp với nhau. Quá trình đó kèm theo sự giải phóng một lượng năng lượng khổng lồ mà thường được gọi là năng lượng nhiệt hạch.

Các phản ứng nhiệt hạch cực kỳ mãnh liệt sẽ xảy ra khi dùng nơtron bắn phá liti đơteri - một hợp chất của đồng vị liti-6 với đơteri. Chất này được dùng làm nguyên liệu hạt nhân trong các lò phản ứng liti, là những lò mà so với những lò phản ứng urani thì có nhiều ưu điểm hơn: liti dễ kiếm và rẻ tiền  hơn  nhiều  so với urani, còn khi phản ứng thì không tạo ra các sản phẩm phân hạch có tính phóng xạ và quá trình phản ứng dễ điều chỉnh hơn.

Liti-6 có khả năng bắt giữ các nơtron chậm khá tốt, đó là cơ sở để sử dụng nó làm chất điều tiết cường độ các phản ứng diễn ra ngay cả trong các lò phản ứng urani. Nhờ tính chất này mà đồng vị liti-6 còn được sử dụng trong các lá chắn chống bức xạ và trong các bộ pin nguyên tử có thời hạn sử dụng lâu dài. Trong tương lai không xa, liti - 6 rất có thể sẽ trở thành chất hấp thụ nơtron chậm trong các khí cụ bay dùng năng lượng nguyên tử.

Cũng như một số kim loại kiềm khác, liti được sử dụng làm chất tải nhiệt trong các thiết bị hạt nhân. Ở đây có thể dùng một đồng vị dễ kiếm hơn của nó, đó là  liti-7  (trong  liti  thiên  nhiên, đồng vị này chiếm khoảng 93%). Khác với “người em” nhẹ hơn của mình, đồng vị này không thể dùng làm nguyên liệu để sản xuất triti, vì vậy mà nó không được quan tâm tới trong kỹ thuật nhiệt hạch. Nhưng với vai trò là chất  tải  nhiệt  thì nó  lại  tỏ  ra rất đắc lực. Nhiệt dung và độ dẫn nhiệt cao, nhiệt độ của trạng thái nóng chảy nằm trong một khoảng rộng, độ nhớt không đáng kể và mật độ nhỏ - đó là những điều giúp nó hoàn thành tốt nhiệm vụ này.
Trong thời gian gần đây, kĩ thuật tên lửa bắt đầu dành cho liti những địa vị quan trọng. Muốn vượt qua lực hút của trái đất để vượt lên khoảng không gian ngoài vũ trụ cần phải chi phí rất nhiều năng lượng. Chiếc tên lửa từng đưa con tàu trở nhà du hành vũ trụ đầu tiên trên thế giới Iuri Gagarin lên quỹ đạo có sáu động cơ với công suất tổng cộng là 20 triệu mã lực! Đó là công suất của hai chục nhà máy thủy điện cỡ như Nhà máy thủy điện Điện. Tất nhiên, việc lựa chọn nhiên liệu cho tên lửa là một vấn đề cực kỳ quan trọng. Cho đến nay, dầu hỏa (đúng là dầu hỏa già cả và tốt bụng) được oxi hóa bởi oxi lỏng vẫn được coi là nhiên liệu hữu hiệu nhất. Khi đốt nhiên liệu này, năng lượng phát ra lớn gấp hơn 1,5 lần so với khi cho nổ cũng một lượng như vậy loại thuốc nổ Nitroglixerin là loại thuốc nổ mạnh nhất.

Việc sử dụng nhiên liệu kim loại có thể có những triển vọng tuyệt vời. Lần đầu tiên cách đây hơn nửa thế kỷ, các nhà bác học Xô -viết nổi tiếng là F. A. Txanđer và Iu. V. Conđrachiuk đã khởi xướng lý thuyết và phương pháp sử dụng kim loại làm nhiên liệu cho động cơ tên lửa. Liti là một trong số những kim loại thích hợp nhất cho mục đích này (chỉ có berili mới có thể “huênh hoang” về suất tỏa nhiệt lớn). Ở Mỹ người ta đã công bố những phát minh về nhiên liệu rắn dùng cho tên lửa trong đó chứa từ 51 đến 68% liti kim loại.
Một điều đáng chú ý là trong quá trình làm việc của các động cơ tên lửa, liti lại phải chống chọi lại với... liti. Là một thành phần của nhiên liệu, nó cho phép sản sinh ra nhiệt độ rất cao, còn các vật liệu gốm chứa liti (chẳng hạn như stupalit) có tính chịu nhiệt cao thì được dùng làm lớp phủ ống phun và buồng đốt để bảo vệ chúng khỏi bị nhiên liệu liti phá hủy.

Trong thời đại chúng ta, kĩ thuật đã làm ra nhiều vật liệu tổng hợp đa dạng - các polime. Chúng được sử dụng một cách thành công để thay thế thép, đồng thau, thủy tinh. Tuy nhiên, các nhà công nghệ đôi lúc cũng gặp những khó khăn lớn khi mà việc chế tạo một số những sản phẩm đòi hỏi họ phải liên kết các polime với nhau hoặc với các vật liệu khác. Chẳng hạn, polime teflon chứa flo - một chất phủ chống ăn mòn rất tuyệt diệu - trong một thời gian dài vẫn không được sử dụng trong thực tiễn chỉ vì nó không chịu bám vào kim loại. Các nhà bác học Xô Viết đã hoàn chỉnh được một công nghệ hàn hạt nhân rất độc đáo để hàn gắn các polime với các vật liệu khác. Các bề mặt cần hàn được bôi một lớp mỏng các hợp chất của liti hoặc bo; các hợp chất này được dùng làm lớp “keo hạt nhân” đặc biệt. Khi dùng nơtron chiếu vào lớp keo này thì sẽ sinh ra các phản ứng hạt nhân kèm theo sự giải phóng một năng lượng lớn, nhờ vậy mà sau một khoảng thời gian cực ngắn (chưa đến một phần tỷ giây), trong các vật liệu sẽ xuất hiện các vi đoạn có nhiệt độ hàng trăm, thậm chí hàng ngàn độ. Nhưng cũng sau những khoảnh khắc này, các phân tử ở các lớp tiếp giáp đã kịp dịch chuyển và đôi khi còn kịp tạo ra những mối liên kết hóa học mới với nhau - quá trình hàn hạt nhân diễn ra như vậy.

Thông thường, các nguyên tố nằm ở góc trên cùng bên trái của bảng Menđeleep đều phổ biến rộng rãi trong thiên nhiên. Tuy vậy, khác với đa số các “bạn láng giềng” của mình - natri, kali, magie, canxi, nhôm, là những nguyên tố có nhiều trên hành tinh của chúng ta, liti lại tương đối hiếm. Trong thiên nhiên chỉ có khoảng ba chục khoáng vật chứa nguyên tố quý báu này. Hợp chất thiên nhiên chủ yếu của liti là spođumen. Các tinh thể của khoáng vật này có hình dạng tựa như những thanh tà vẹt đường sắt hoặc thân cây, đôi khi đạt đến kích thước khổng lồ: tại  bang  Nam Dakota (nước Mỹ) đã tìm thấy một tinh thể dài hơn 15 m và nặng hàng chục tấn. Tại các mỏ ở Mỹ đã phát hiện ra các biến thể của spođumen có màu xanh ngọc bích và màu tím phớt hồng rất đẹp. Đó là các khoáng vật hiđenit và cunxit rất quý.
Đá pecmatit dạng granit có thể giữ một vai trò to lớn trong việc dùng làm nguyên liệu để sản xuất liti. Người ta dự tính rằng, trong 1 kilômét khối granit có tới hơn một trăm ngàn tấn liti. Đó là một lượng lớn hơn rất nhiều so với lượng liti khai thác được hàng năm ở tất cả các nước cộng lại. Trong các kho tàng granit, bên cạnh liti còn có niobi, tantali, ziricon,  thori,  urani,  neođim, xezi, xeri, prazeođim và nhiều nguyên tố hiếm khác. Nhưng làm thế nào để bắt được đá granit phải chia sẻ của cải của nó với con người? Các nhà bác học đã ra sức tìm tòi và nhất định sẽ sáng tạo ra những phương pháp tựa như câu thần chú “Vừng ơi! Hãy mở ra!”, cho phép con người mở cửa các kho báu granit.

Để kết thúc câu chuyện về liti, chúng tôi xin kể một chuyện vui, trong đó nguyên tố này đã đóng vai trò rất quan trọng. Năm 1891, anh sinh viên vừa tốt nghiệp trường Đại học tổng hợp Havard ở Mỹ tên là Rôbec Ut (Robert Wood) (sau này trở thành nhà vật lý học nổi tiếng) đã đến Bantimo để nghiên cứu hóa học tại trường đại học tổng hợp địa phương. Khi đến ở trong khu nhà trọ của sinh viên, Ut nghe đồn rằng, bà chủ hình như vẫn làm món thịt rán buổi sáng... bằng những miếng thịt góp nhặt từ những đĩa thừa lại từ bữa trưa ngày hôm trước. Nhưng làm thế nào để chứng minh điều  đó?
Vốn là người rất thích tìm lời giải độc đáo đồng thời lại đơn giản cho mọi bài toán, lần này, Ut cũng không làm trái với những nguyên tắc của mình. Một hôm, trong bữa ăn chưa người ta dọn ra món bíttết, anh bèn để thừa lại trên đĩa vài miếng thịt khá to sau khi rắc lên đó một ít muối liti clorua - một chất hoàn toàn không độc, bề ngoài và mùi vị rất giống muối ăn bình thường. Ngày hôm sau, những viên thịt rán trong bữa ăn sáng của sinh viên đã được đem “thiêu” trước khe hở của kính soi quang phổ. Vạch đỏ của quang phố vốn đặc trưng cho liti đã cho một kết luận dứt khoát: bà chủ nhà trọ quá keo kiệt đã bị vạch mặt. Còn Ut thì mãi nhiều năm sau vẫn thấy thích thú mỗi khi hồi tưởng lại cuộc thực nghiệm tìm vết của  mình.

[Thí nghiệm hóa học vui] Hướng dẫn Cách làm mực vô hình

cngdirdet2022@gmail.com 06:47 0
cngdirdet2022@gmail.com

Thí nghiệm hóa học vui - Mực vô hình

 -------
------

I.Cách làm mực vô hình từ Quả chanh

Trong bài viết này mình sẽ hướng dẫn các bạn làm thế nào để làm mực vô hình từ nước chanh.
Như các bạn biết đấy, nước chanh có tính acid và phản ứng yếu với giấy viết. Khi cung cấp nhiệt cho giấy, acid sẽ làm giấy chuyển sang màu nâu trước khi làm giấy mất màu.

-Thời gian làm thí nghiệm chỉ mất vài phút.

1.Để làm mực vô hình-Cách 1

  • Vật liệu: 1 trái chanh
  • 1 cốc nước
  • Que tăm hoặc cọ vẽ
  • Giấy trắng
1. Chuẩn bị nước cốt chanh hoặc dùng nước chanh pha sẵn.
2. Dùng cọ vẽ hay que tăm viết lên giấy bằng nước chanh.
3. Đợi cho giấy khô ráo.
4. Để đọc chữ viết trên giấy, hơ tờ giấy lên ánh sáng mặt trời, đèn hoặc một nguồn cung cấp nhiệt khác.
5. Nguồn nhiệt sẽ làm chữ viết chuyển sang màu nâu nhạt, chữ viết đậm màu hơn nên bạn có thể đọc chữ được.
6. Một cách khác để đọc chữ là cho muối ăn lên vết mực khô trên giấy. Sau 1 phút, lau sạch muối và tô màu tờ giấy bằng bút chì sáp để đọc chữ.
Hướng dẫn:
1. Có thể thực hiện thí nghiệm với các loại nước quả khác. Rượu trắng, nước cam, giấm, và nước táo đều có thể dùng cho thí nghiệm.
2. Dùng mảnh vải cotton tốt hơn dùng cọ vẽ.
3. Chữ viết chuyển sang màu nâu là do chỗ giấy bị acid phản ứng gia nhiệt trước toàn bộ phần giấy còn lại. Cẩn thận không gia nhiệt nhiều làm cháy tờ gì.

(Cách làm: Đầu tiên bạn hãy vắt chanh vào cốc nước, sau đó ngâm đầu tăm (hoặc cọ vẽ) vào nước chanh cho mềm. Dùng que tăm (hoặc cây cọ vẽ) đã ngâm để viết mật thư lên tờ giấy trắng. Chờ mật thư khô ^^
Bạn có thể dùng tiếp nhiều cách sau để làm hiện ra chữ: ủi tờ giấy bằng bàn là, hơ trên nến hoặc dưới bóng điện…nói chung là cung cấp nhiệt cho giấy ^^
Mật thư sẽ hiện lên với chữ màu nâu. Nước chanh có tính axid, khi cung cấp nhiệt cho giấy, acid sẽ làm giấy chuyển sang màu nâu trước khi mất màu.
Loại mực này dễ làm, bạn có thể thay nước chanh bằng rượu trắng, giấm hay nước cam… tuy nhiên nó cũng mau trở thành vô hình vĩnh viễn ^^)

2.Để làm mực vô hình- Cách 2

  • Vật liệu: Bột bắp (ngô)
  • Nồi
  • Que tăm hoặc cọ vẽ
  • Giấy 
  • Nước
  • Giẻ
  • Nước oxy già
Cách làm: Bắc nồi lên bếp, chờ cho nóng cho vào nồi 2 thìa bột bắp và 4 thìa nước, khuấy cho tới khi bột dẻo đều.
Ngâm đầu tăm (cọ vẽ) vào bột bắp đã dẻo rồi dùng để viết lên tờ giấy trắng. Chờ cho mật thư khô thì nhúng giẻ vào nước oxy già và chà nhẹ trên mặt giấy. Chú ý đừng thấm cho giấy quá ướt
Chữ màu tím sẽ hiện ra trên mật thư. Nhưng nó cũng mau bay màu lắm nên bạn nào muốn biểu diễn thì phải hành động nhanh gọn.

Vì sao đồng có nhiều màu

cngdirdet2022@gmail.com 19:14 0
cngdirdet2022@gmail.com

[Hóa học và đời sống] VÌ SAO ĐỒNG LẠI CÓ NHIỀU MÀU

Đồng tinh khiết có màu tím. Đồng tinh khiết dẫn điện, dẫn nhiệt rất tốt. Trong các kim loại thì trừ bạc ra, đồng có độ dẫn điện lớn nhất. Trong công nghiệp sản xuất đồ điện như dây điện, máy đóng ngắt điện, quạt điện, chuông điện, điện thoại v.v... đều cần một lượng lớn đồng. 
vì sao đồng có nhiều màu

Đồng màu tím hết sức tinh khiết, đồng tinh khiết thường được chế tạo bằng phương pháp điện phân. Đồng rất mềm. Thông thường từ 1 giọt đồng người ta có thể kéo thành sợi mảnh dài đến 2000m, dát thành các lá đồng rất mỏng, mỏng đến mức có thể nhìn xuyên qua, có thể bị gió thổi bay. Có nhiều loại nhạc khí được chế tạo bằng đồng, nói cho chính xác thì là chế tạo bằng đồng thau. Đồng thau là hợp kim của đồng và kẽm. Đồng được chế tạo rất sớm ngay từ thời nhà Hán ở Trung Quốc, người ta đã luyện được đồng thau. Đồng thau còn có tên gọi là hoàng đồng (đồng màu vàng) là từ màu sắc mà đặt tên cho đồng thau. Tùy thuộc hàm lượng kẽm trong hợp kim mà hợp kim đồng chế tạo được sẽ có màu khác nhau. Ví dụ với hàm lượng kẽm từ 18% - 20%, hợp kim có màu vàng đỏ. Hàm lượng kẽm 20 - 30% hợp kim sẽ có màu vàng, từ 30-42% hợp kim có màu vàng nhạt, từ 42%- 50% sẽ có màu vàng tươi (của vàng kim loại), với hàm lượng kẽm 50% - 60% hợp kim chế tạo được sẽ cómàu trắng. Trong công nghiệp người ta hay dùng hợp kim có màu vàng với hàm lượng kẽm dưới 45%. Tại các công trình kiến trúc, thường người ta hay đặt các bức tượng đồng đen được chế tạo bằng hợp kim của đồng với thiếc, đôi khi là hợp kim của đồng - thiếc có thêm kẽm. Rất nhiều kim loại khi bị lạnh thì co lại, nhưng với đồng đen thì trái lại khi bị lạnh lại nở ra. Vì vậy khi dùng đồng đúc tượng thì nét mày rõ ràng, chi tiết sắc sảo. Đồng đen cũng có tính chất chịu mài mòn rất tốt. Dùng đồng đen để chế tạo ổ trục sẽ được các ổ trục chịu được mài mòn nổi tiếng trong công nghiệp. Các loại dụng cụ chế tạo bằng đồng bạch sáng lấp lánh, rất đẹp, không bị gỉ xanh. Đồng bạch chính là hợp kim của đồng vối niken. Đồng bạch được chế tạo rất sớm từ thế kỷ thứ nhất ở Trung Quốc. Đến thế kỷ 18 đồng bạch mới được truyền từ Trung Quốc đến châu Âu. Bấy giờ người Đức bắt đầu học tập phương pháp của Trung Quốc và tiến hành chế tạo trên quy mô lớn. Trưốc đây có ngưòi gọi đồng bạch là bạc của Đức chỉ là nhìn từ ngọn.

Nguồn: http://www.csv.net.vn/kien-thuc-hoa-hoc.html

[Thí nghiệm hóa học vui] Cách làm bàn tay phát quang

cngdirdet2022@gmail.com 03:37 0
cngdirdet2022@gmail.com

Cách làm bàn tay phát quang

Cách làm bàn tay phát quang

Bạn có thể làm cho bàn tay minh phát sáng chỉ nhờ vào một phản ứng rất đơn giản : phản ứng quang hoá. Phản ứng này xảy ra trực tiếp dưới tác dụng của oxy không khí. Tất nhiên là, thành công của một “ảo thuật gia” còn phụ thuộc nhiều vào bạn nữa ! chúng ta cùng làm thí nghiệm này nhé.

1. Mở đầu

Bạn có thể làm cho bàn tay minh phát sáng chỉ nhờ vào một phản ứng rất đơn giản : phản ứng quang hoá. Phản ứng này xảy ra trực tiếp dưới tác dụng của oxy không khí. Tất nhiên là, thành công của một “ảo thuật gia” còn phụ thuộc nhiều vào bạn nữa ! chúng ta cùng làm thí nghiệm này nhé.

2. Dụng cụ và hóa chất

    * Găng tay Latex
    * Chất Tetrakis(dimethylamino)ethylene

3. Quy trình tiến hành thực nghiệm

    * Điều chỉnh ánh sáng phòng thí nghiệm đủ tối để dễ quan sát hiện tượng.
    * Đeo găng vào 2 bàn tay.
    * Mở lọ đựng Tetrakis(dimethylamino)ethylene, đổ vài giọt lên bàn tay. Đặt lọ xuống (nhờ ai đó đóng nắp lọ) rồi xoa hai bàn tay vào nhau. Để tránh hóa chất vương vãi, để hai bàn tay lên trên bồn rửa hoặc chậu thau.
    * Quan sát sự phát quang một lúc.
    * Sau khi phản ứng kết thúc, tháo găng vứt đi, mở cửa phòng thí nghiệm cho thoáng khí.

4. Giải thích hiện tượng

    * Tetrakis(dimethylamino)ethylene phản ứng rất dễ dàng với oxy không khí. Phản ứng bắt đầu xảy ra ngay sau khi ta đổ vài giọt chất lên lòng bàn tay.
    * Phản ứng này phát quang. Một trong số các sản phẩm của phản ứng nằm ở trạng thái kích thích. Khi quay trở lại trạng thái bình thường, nó phát ra ánh sáng (photon). Hai thí nghiệm Ánh sáng lỏng và Phospho cũng được giải thích dựa trên nguyên tắc này.
    * Ánh sáng phát ra là hỗn hợp của nhiều màu sắc (các bước sóng khác nhau), còn gọi là phổ vạch (cũng giống như trong thí nghiệm Những ngọn lửa nhiều màu sắc).

5. Những điều cần chú ý

    * Nên đeo chồng hai lần găng tay lên nhau để tránh tiếp xúc trực tiếp với chất hóa học.
    * Phản ứng tạo thành những hợp chất có mùi khó chịu (amin). Vì vậy, nên làm thoáng phòng thí nghiệm ngay và rửa sạch găng sau khi dùng xong rồi mới vứt đi.
    * Đóng nắp bình thật nhanh để oxy không khí không tác dụng được với chất trong bình.

[Thơ vui hóa học] Nguyên tố gì

cngdirdet2022@gmail.com 10:22 0
cngdirdet2022@gmail.com
thơ vui thơ tình hóa học

Nguyên tố gì?

1. Nguyên tố nào muối mang vị chát
Lênh đênh giữa trùng khơi mà nghe biển hát
Nhiệt độ thường tương tác oxi
Với hơi nước phải đun lên nhá?

2. Nguyên tố nào đi vào cổ tích
Thắm duyên nhau bởi một miếng trầu
Muối chế biến theo công trình xây dựng
Cũng có khi nằm lát đường tàu?

3. Nguyên tố nào kim loại trắng xanh
Trắng lên sắt cho nó khỏi rỉ
Muối Clorua ngoài không khí
Trong y khoa dùng để khử trùng?

4. Nguyên tố nào lỏng nhiệt độ thường
Hòa tan được nhiều kim loại
Nó được dùng trong nhiều loại máy
Điều hòa áp suất, bơm khuếch tán chân không?

5. Nguyên tố nào nhiều giữa biển đông
Lửa màu vàng khi nung đèn khí
Điện phân muối này để điều chế
Hidroxit nó dễ ăn da?

6. Nguyên tố nào cho cây kết trái đơm hoa
Muối khai thác để làm phân bón
Nó khử tan thủy ngân tạo ra hỗn hống
Nó có trong thuốc tím rửa rau hằng ngày?

7. Nguyên tố nào tạo nhiều hợp kim khác nhau
Con người biết từ thời thượng cổ
Làm dây điện, máy và công cụ
Ôxit làm men, làm kính lục, xanh?

8. Nguyên tố nào ít gặp đơn chất tự nhiên
Nhiều ở quặng sunphua, dạng muối
Làm cốc uống nước thì lợi rất nhiều
Nước có ion của nó dùng để tiệt trùng? 
--------------------------------------------------

[Thơ vui hóa học] Kim loại natri

cngdirdet2022@gmail.com 10:19 0
cngdirdet2022@gmail.com
thơ vui hóa học

Natri

Để anh kể em nghe
Chuyện 1 kim loại kiềm
Đã làm nên muối biển
Biển mặn mòi


Natri đã thành tên
23 là khối lượng
Mềm, trắng, nhẹ hơn nước
Phổ biến trong tự nhiên.


Là 1 kim loại kiềm
Nên hoạt động mãnh liệt
Em ơi, khó tìm kiếm
Na đơn chất đâu


Xút ăn da không màu
Oxit trắng dễ tạo
Halogen chẳng khác
Phi kim tác dụng ngay

{Và nhớ nhé điều này
Trừ khí trơ ra đấy}

Natri thật dễ tính
Tạo các muối đều tan
Hợp chất nhiều vô vàn
Quan trọng trong cuộc sống!

[Thơ vui hóa học] Tính chất hóa học của nhóm Halogen

cngdirdet2022@gmail.com 10:12 0
cngdirdet2022@gmail.com

Học hóa học qua thơ: Tính chất hóa học của nhóm Halogen

thơ vui hóa học


Tính chất hóa học của nhóm Halogen

Tính chất chung chính là oxi hóa
Nhận 1e nên số oxi hóa là 1 âm
Trừ Flo các halogen khác còn cần
Số oxi hóa dương: 1, 3, 5, 7
Các axit từ HF đến HI có phải
Mạnh nhất là chàng nhóc HI không?
HF kia tính axit yếu xìu
Nhưng hắn làm thủy tinh tiêu tan đó bạn
Các kim loại bị HCl phá có hạn
Chỉ những kim loại đứng trước H thôi
Bạc halogenua kết tủa bạn biết rồi
Trừ dung dịch AgF, nhưng CaF2 thì kết tủa.

[Thơ vui hóa học] Tình yêu hóa chất

cngdirdet2022@gmail.com 10:02 0
cngdirdet2022@gmail.com

Thơ vui thơ tình hóa học: Tình hóa chất

thơ vui hóa học


Tình hóa chất

Em bên này đồng thau oxy hoá
Bởi cuộc tình phản ứng hoá vô cơ
Ðời lên men bởi giông tố mưa sa
Và kim loại giờ đã pha chất rỉ.
Làm xúc tác tại anh không bền chí
Ðể bây giờ phản ứng chẳng xảy ra
Cần thời gian tìm hiểu thêm đó mà
Sao anh vội bỏ qua tình hoá chất.
Ngày tháng qua em một mình chưng cất
Ngày lại ngày em tất bật thêm vôi
Giờ Can-xi đã trơ cứng lại rồi
Ai kêu anh An-kan hoài mãi mãi.
Em đứng đây ôm đồng đen kim loại
Hoá trị 2 vẫn tim nhói tình đau
Giờ hoá xanh không còn chất đồng thau
Mắt ngấn lệ mà nghe tim đau nhói…


Các nguồn năng lượng sạch trong tương lai tương lai

cngdirdet2022@gmail.com 10:41 0
cngdirdet2022@gmail.com

Nguồn năng lượng sạch dùng cho tương lai

 Ưu điểm của nguồn năng lượng này là sạch, có sẵn trong thiên nhiên, không gây ô nhiễm, không bị cạn kiệt và là giải pháp tốt nhất nhằm tiết kiệm năng lượng hóa thạch cho tương lai.

Các nguồn năng lượng sạch trong tương lai tương lai

Dưới đây là những công nghệ sáng tạo mới được kỳ vọng sẽ tạo ra nguồn năng lượng dồi dào trong tương lai.
Báo cáo mới nhất của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) trong tháng 11 đã cung cấp một bức tranh toàn cảnh về nguồn năng lượng trên Trái Đất. 

Tiếc rằng, đó không phải là bức tranh màu hồng. Cộng đồng các nhà khoa học toàn cầu đã tố cáo chính phủ các nước đã không thực sự nỗ lực trong việc thực hiện cam kết cắt giảm 40 - 70% lượng khí thải toàn cầu gây ra hiệu ứng nhà kính. Điều đó gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường hiện nay.

Nhiều học viên, các phòng nghiên cứu và phát triển thí nghiệm trên khắp thế giới cùng các công ty trong danh sách Fortune 500 đã rất nỗ lực để tìm ra những biện pháp giải quyết hậu quả môi trường một cách tối ưu nhất. Tuy nhiên, một số giải pháp vẫn chưa đi vào thực tế và được kỳ vọng phát triển trong tương lai.

1. Chụp và cô lập Carbon

-Kỹ thuật chụp và cô lập carbon cho phép xử lý carbon dưới các bể chứa ngầm trong các nhà máy lưu trữ carbon. Kỹ thuật này có thể sẽ thành công sau vài năm tiến hành thử nghiệm và sửa lỗi.
-Nhân viên kỹ thuật chứng minh tại các nhà máy điện từ than đá ở một số nước như Australia và Mỹ rất quan tâm đến kỹ thuật này.
-Hy vọng rằng, điều này sẽ mang tính khả thi cao như năng lượng từ vật liệu hữu cơ hay năng lượng sinh học từ tảo. Đó là bởi vì nhiên liệu hữu cơ lấy carbon từ bầu khí quyển trước khi chuyển đổi thành nhiên liệu.

2. Năng lượng hạt nhân thế hệ tiếp theo

Ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân đã làm việc dựa trên các giải pháp an toàn hơn từ sau khi lò phản ứng hạt nhân ở nhà máy Fukushima gặp sự cố vì thảm họa kép động đất sóng thần ở Nhật Bản vào năm 2011.

Nội dung gồm nhiều việc trong đó bao gồm hàng chục lò phản ứng hạt nhân và thậm chí nhỏ hơn hàng trăm lần và phân phối nhiều hơn. Những kho-kích thước nhà máy hạt nhân cung cấp điện cho nhiều khu vực lân cận chứ không phải là toàn bộ thành phố. Họ đã xây dựng một vài thiết kế mới cho lò phản ứng mô đun có cơ chế an toàn thụ động để làm giảm nguy cơ bị hư hỏng, bức xạ do thiên tai như thảm họa xảy ra ở Nhật vừa qua.

Cũng giống như ngành công nghiệp dầu khí và ga đã phát triển, họ đang có kế hoạch xây dựng nhà máy điện nguyên tử trên biển. Chúng có thể chịu được bão cấp 5. Bên cạnh đó, do các lõi của lò phản ứng sẽ được đặt dưới biển, chúng chìm trong nước, nên trong trường hợp bị mất năng lượng hệ thống sẽ nhanh chóng được làm mát.
Các nguồn năng lượng sạch trong tương lai tương lai

3. Pin nhiên liệu.

Đây là kỹ thuật có thể cung cấp năng lượng cho con người mà không hề phát ra khi thải CO2 (các bon điôxít) hoặc những chất thải độc hại khác. Một pin nhiên liệu tiêu biểu có thể sản sinh ra điện năng trực tiếp bởi phản ứng giữa hydro và ôxy. Hydro có thể lấy từ nhiều nguồn như khí thiên nhiên, khí mêtan lấy từ chất thải sinh vật và do không bị đốt cháy nên chúng không có khí thải độc hại. Đi đầu trong lĩnh vực này là Nhật Bản. Quốc gia này sản xuất được nhiều nguồn pin nhiên liệu khác nhau, dùng cho xe phương tiện giao thông, cho ôtô hoặc cả cho cả các thiết bị dân dụng như điện thoại di động.

4. Năng lượng gió

Năng lượng gió

-Năng lượng gió được coi là nguồn năng lượng xanh vô cùng dồi dào, phong phú và có ở mọi nơi. Người ta có thể sử dụng sức gió để quay các turbin phát điện. Ví dụ như ở Hà Lan hay ở Anh, Mỹ. Riêng tại Nhật mới đây người ta còn sản xuất thành công một turbin gió siêu nhỏ, sản phẩm của hãng North Powen. Turbin này có tên là NP 103, sử dụng một bình phát điện dùng cho đèn xe đạp thắp sáng hoặc giải trí có chiều dài cánh quạt là 20 cm, công suất điện là 3 W, đủ để thắp sáng một bóng đèn nhỏ.

*Năng lượng gió ở biển

  • Năng lượng gió sẽ được tăng cường trong vòng 25 năm tới với thiết kế tubin lưới theo kỹ thuật hàng không với mục đích thu được khối năng lượng lớn nhất từ mỗi cơn gió.
  • Các turbin gió sẽ được xây dựng trên biển. Đan Mạch là nước đi đầu trong kế hoạch này đã sẵn sàng để cho cả thể giới thấy rằng năng lượng gió trên biển hiệu quả đến thế nào. Nguồn năng lượng gió cung cấp đến một phần ba năng lượng của cả đất nước và được kỳ vọng đến năm 2020 sẽ cung cấp một nửa tổng nguồn cầu.
  • Dự án trang trại gió Anholt, Đan Mạch với hệ thống sản xuất năng lượng gió trên biển được lắp đặt 111 turbin, hoàn thành vào tháng 9 năm 2013, cung cấp 1,27 GW, cho hơn 1 triệu hộ dân. Do năng lượng gió trên biển mạnh hơn và liên tục hơn so với hệ thống trên bờ nên vấn đề ngắt quãng được giảm trừ rất nhiều. Lượng điện sản xuất ra đều hơn.

5.Dầu thực vật phế thải dùng để chạy xe

Dầu thực vật khi thải bỏ, nếu không được tận dụng sẽ gây lãng phí lớn và gây ô nhiễm môi trường. Để khắc phục tình trạng này, tại Nhật có một công ty tên là Someya Shoten Group ở quận Sumida Tokyo đã tái chế các loại dầu này dùng làm xà phòng, phân bón và dầu VDF (nhiên liệu diezel thực vật). VDF không có các chất thải ôxít lưu huỳnh, còn lượng khỏi đen thải ra chỉ bằng 1/3 so với các loại dầu truyền thống.

6. Công nghệ không gian

-Công nghệ năng lượng vũ trụ như thu khí hidro từ Mặt Trăng để tạo ra năng lượng hoặc hấp thu ánh sáng Mặt Trời trực tiếp và gián tiếp từ chùm tia chiếu xuống mặt đất thông qua sóng phát thanh, lò vi sóng ở vành đai Mặt Trời.
-Công ty mới thành lập Solaren đã đạt được hợp đồng với California's Pacific Gas and Electric để trở thành nhà cung cấp năng lượng từ không gian kể từ cuối thập kỷ này
-Cơ quan hàng không và vũ trụ Mỹ, NASA cũng như Phòng thí nghiệm của hải quân Mỹ đã đầu tư vào công nghệ tiên tiến này trong suốt 25 năm. Việc tiếp tục hồi phục không gian riêng được cho thấy bởi những công ty như công ty SpaceX trong việc cắt giảm mạnh chi phí cho việc vận chuyển hàng hóa vào quĩ đạo để dành cho các dự án không gian mang nhiều tham vọng hơn.

7. Năng lượng từ sự lên men sinh học

Nguồn năng lượng này được tạo bởi sự lên men sinh học các đồ phế thải sinh hoạt. Theo đó, người ta sẽ phân loại và đưa chúng vào những bể chứa để cho lên men nhằm tạo ra khí metan. Khí đốt này sẽ làm cho động cơ hoạt động từ đó sản sinh ra điện năng. Sau khi quá trình phân hủy hoàn tất, phần còn lại được sử dụng để làm phân bón.

8.Địa nhiệt-Nguồn năng lượng địa nhiệt

Đây là nguồn năng lượng nằm sâu dưới lòng những hòn đảo, núi lửa. Nguồn năng lượng này có thể thu được bằng cách hút nước nóng từ hàng nghìn mét sâu dưới lòng đất để chạy turbin điện. Tại Nhật Bản hiện nay có tới 17 nhà máy kiểu này, lớn nhất có nhà máy địa nhiệt Hatchobaru ở Oita Kyushu, công suất 110.000 kW đủ điện năng cho 3.700 hộ gia đình.

Trong thập kỷ tới, địa nhiệt được kỳ vọng sẽ trở thành hiện tượng sốt dẻo khi mà các nhà khoa học tìm ra con đường khả thi để khai thác nguồn năng lượng ở sâu bên dưới lớp vỏ Trái Đất.

Nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu ở Iceland đã phải đào sâu xuống các ngọn núi lửa để đến được lớp nước cực nóng và khoáng sản macma để lấy được nguồn nhiên liệu có nhiệt cao làm nguyên liệu cho các nhà máy địa nhiệt. Mục đích là để phát triển công nghệ tiên tiến hơn để sản xuất nhiều hơn vào thập kỷ tới.

Nếu như nghiên cứu này mang lại kết quả như ý, nó sẽ sớm đi vào thực tế để khai thác được nhiều hơn nguồn nguyên liệu ở khắp nơi trên thế giới. Khi đó, việc sản xuất sẽ cho năng suất gấp 10 lần lượng địa nhiệt hiện tại. Có thể vào một ngày nào đó trong tương lai sẽ áp dụng việc khai thác ở nhiều biển trên toàn thế giới. Nhiều nhà nghiên cứu ước tính rằng, các nhà máy địa nhiệt có thể khai thác ở mức 1.000 mét dưới đáy biển Juan de Fuca Ridge ngoài khơi bờ biển bang Washington.

9.Năng lượng từ tuyết-Năng lượng lạnh

Hiệp hội nghiên cứu năng lượng thiên nhiên ở Bihai của Nhật đã thành công trong việc ứng dụng tuyết để làm lạnh các kho hàng và điều hòa không khí ở những tòa nhà khi thời tiết nóng bức. Theo dự án này, tuyết được chứa trong các nhà kho để giữ nhiệt độ kho từ 0oC đến 4oC. Đây là mức nhiệt độ lý tưởng dùng để bảo quản nông sản vì vậy mà giảm được chi phí sản xuất và giảm giá thành sản phẩm.

10.Khí Mêtan hydrate

Khí Mêtan hydrate được coi là nguồn năng lượng tiềm ẩn nằm sâu dưới lòng đất, có màu trắng dạng như nước đá, là thủ phạm gây tắc đường ống dẫn khí và được người ta gọi là “nước đá có thể bốc cháy”. Metan hydrate là một chất kết tinh bao gồm phân tử nước và metan, nó ổn định ở điều kiện nhiệt độ thấp và áp suất cao, phần lớn được tìm thấy bên dưới lớp băng vĩnh cửu và những tầng địa chất sâu bên dưới lòng đại dương và là nguồn nguyên liệu thay thế cho dầu lửa và than đá rất tốt.

11.Năng lượng từ nước-Năng lượng đến từ biển-Dòng hải lưu

Năng lượng từ đại dương. Đây là nguồn năng lượng vô cùng phong phú, nhất là quốc gia có diện tích biển lớn. Sóng và thủy triều được sử dụng để quay các turbin phát điện. Nguồn điện sản xuất ra có thể dùng trực tiếp cho các thiết bị đang vận hành trên biển như hải đăng, phao, cầu cảng, hệ thống hoa tiêu dẫn đường v.v…

12.Phản ứng nhiệt hạch

Phản ứng nhiệt hạch-năng lượng nhiệt hạch

Nếu như có một nguồn năng lượng sạch kiểu "Chén Thánh" chắc đó phải là phản ứng nhiệt hạch. Nó hứa hẹn cung cấp một nguồn năng lượng vô hạn và không thải ra môi trường các khí độc hại. Bằng cách tìm ra cách bắt chước các phản ứng nguyên tử xảy ra một cách có kiểm soát tại trung tâm hệ mặt trời, các lò phản ứng nhiệt hạch có thể sản xuất ra rất nhiều năng lượng với chi phí môi trường thấp.

Trong khi kỹ thuật này phải mất 30 năm mới hoàn thành, thì từ sớm công ty quốc phòng Lockheed Martin đã bắt đầu bắt tay xâm nhập. Trong tháng 10, các nhà khoa học đã phát triển ra một lò phản ứng nhiệt hạch mini có thể sản xuất đến 100 MW điện. Các nhà khoa học hy vọng rằng trong 5 năm tới bản nguyên mẫu sẽ ra mắt và được bán trong thập kỷ này.

13.Nhiên liệu Mặt Trời

Nhật Bản, Mỹ và một số quốc gia Tây Âu là những nơi đi đầu trong việc sử dụng nguồn năng lượng mặt trời rất sớm (từ những năm 50 ở thế kỷ trước). Tính đến năm 2002, Nhật Bản đã sản xuất được khoảng 520.000 kW điện bằng pin mặt trời, với giá trung bình 800.000 Yên/kW, thấp hơn 10 lần so với cách đây trên một thập kỷ. Nếu một gia đình người Nhật 4 người tiêu thụ từ 3 đến 4 kW điện/mỗi giờ, thì họ cần phải có diện tích từ 30-40 m2 mái nhà để lắp pin. Nhật Bản phấn đấu đến năm 2010 sẽ sản xuất được hơn 8,2 triệu kW điện tử năng lượng mặt trời.

Ý tưởng chuyển đổi ánh sáng mặt trời, nước và khí CO2 thành năng lượng hóa học khả dụng có thể lưu trữ trong thời gian dài như xăng dầu, là mục tiêu mà các nhà khoa học hướng tới.

Nhiên liệu  mặt trời bao gồm khí CO2 lấy từ không khí và sự chia tách nguyên tử carbon từ những phân tử. Sau đó, bằng việc lấy nguyên tử hidro từ nước, cả carbon và hidro tạo thành hidrocarbon. Nếu các nhà khoa học tìm ra con đường thực hiện các phản ứng hóa học với chất xúc tác là ánh nắng mặt trời, thì năng lượng mặt trời sẽ được chuyển hóa thành 
thành nhiên liệu có thể dự trữ trong khi CO2 sẵn có trong không khí được tái sử dụng thành nhiên liệu sử dụng được.

Các nhà nghiên cứu ở phòng thí nghiệm Nocera của Harvard, nhóm Grossman của Viện MIT và trung tâm nghiên cứu năng lượng hàng đầu của đại học North Carolina đã có những bước tiến lớn trong thập kỷ qua.

Kết thúc.

Nguồn tin: 
Trang hóa học ngày nay.
Nội dung được thực hiện qua tham khảo nguồn tin từ hãng tin CNBC thuộc Tập đoàn NBCUniversal News Group của Mỹ với số lượng người xem lên tới 390 triệu trên khắp thế giới.

Những vấn đề hóa học đời sống trong ôn thi đại học

cngdirdet2022@gmail.com 18:56 0
cngdirdet2022@gmail.com

Hóa học và vấn đề môi trường

Hóa học và vấn đề môi trường
Chuyên mục :Hóa học và đời sống,Ôn thi đại học
Thực hành và học tập hóa học trong nội dung chương trình trường trung học phổ thông giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển kiến thức cơ bản của học sinh. Với mục đích là giúp cho học sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh những kiến thức, hiểu biết về thế giới, tự nhiên, môi trường sống thông qua các bài học, các bài thực hành môn hóa học. Học hóa học không những để làm các bài tập tính toán, nhận biết, viết phương trình hóa học của các phản ứng ....mà học hóa học còn để biết được những ứng dụng phong phú và thiết thực của hóa học vào cuộc sống.

Nội dung cụ thể các vấn đề hóa môi trường trong ôn thi đại học

Phần 1:Hóa học và các vấn đề môi trường
-Về nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
-Tác hại của ô nhiễm không khí là rất lớn
-Ô nhiễm môi trường nước
-Ô nhiễm môi trường đất
-Một số phương pháp xử lí chất thải gây ô nhiễm môi trường
Phần 2:Bài tập và câu hỏi hóa môi trường, hóa học đời sống
Hóa học với ngành sản xuất công nông nghiệp
-Hóa Học Với Ứng Dụng Trong Đời Sống
-Hóa Học Với Sức Khỏe
-Hóa Học Với Việc Bảo Vệ Môi Trường
-Các câu hỏi khác
--------------------------------------------------------------------------------

Phần1:Hóa học và các vấn đề môi trường

Back to Top
Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường vi phạm tiêu chuẩn môi trường . Chất gây ô nhiễm môi trường là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc hại.
Ô nhiễm môi trường có thể do hậu quả của hoạt động tự nhiên như hoạt động của núi lửa , thiên tai, bão… hoặc các hoạt động do con người thực hiện trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tham gia giao thông và trong sinh hoạt.

Sự ô nhiễm môi trường về mặt hóa học:

Ô nhiễm không khí:

Là hiện tượng làm cho không khí sạch thay đổi thành phần, có nguy cơ gây tác hại đến thực vật, sức khoẻ con người và môi trường xung quanh.
Không khí sạch thường sấp sĩ với thành phần gồm: 78% khí nitơ, 21% khí oxi và một lượng nhỏ khí cacbonic và hơi nước.....Không khí bị ô nhiễm thường có chứa quá mức cho phép nồng độ khí carbonic, khí mêtan và một số khí độc khác như carbon monoxit, amoniac, lưu huỳnh dioxid, hiđro clorua và một số loại vi khuẩn gây bệnh.

Về nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường

Back to Top
Có 2 nguồn chính gây ô nhiễm môi trường không khí đó là:
- Nnguồn gây ô nhiễm do thiên nhiên
- Nguồn do hoạt động của con người.

Nguồn gây ô nhiễm do con người chủ yếu tạo ra từ:

+ Khí thải công nghiệp: do quá trình đốt nhiên liệu và sự rò rĩ, thất thoát khí độc trong quá trình sản xuất, Các chất thải công nghiệp thường có nồng độ cao
+ Khí thải do hoạt động giao thông vận tải, các chất khí độc hại phát sinh trong quá trình đốt cháy nhiên liệu của động cơ, kèm thao bụi và tiếng ồn làm ô nhiễm không khí trên các tuyến giao thông.
+ Khí thải do sinh hoạt: chủ yếu phát sinh từ đun nấu lò sưởi do sử dụng nhiên liệu kém chất lượng, nguồn thải các khí độc nhỏ nhưng phân bố dày đặc cục bộ trong từng không gian hẹp nên gây độc hại trực tiếp đến con người

Tác hại của ô nhiễm không khí là rất lớn

Back to Top
- Trước hết là hiệu ứng nhà kính gây ra do sự tăng nồng độ CO2, NO2, CH4, O3, CFC...làm cho nhiệt độ của trái đất nóng lên. mặt trái của hiệu ứng nhà kính là gây ra sự khác thường về khí hậu, gây hạn hán lũ lụt, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và cuộc sống của con người.
- Ngoài ra ô nhiễm không khí ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ con người: gây ra bệnh tật đặc biệt là các bệnh về tim, phổi. Không khí bị ô nhiễm nặng có thể gây tử vong cho con người.
- Ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của động, thực vật: Khí lưu huỳnh đioxit đặc biệt có hại đối với cây lúa mạch, cây bông, cây thông, các loại hoa, cây ăn quả
- Khí CFC phá huỷ tầng ozôn là lá chắn tia cực tím cho trái đất gây ra nhiều tác hại cho sinh vật và sức khoẻ con người.
- Ô nhiễm không khí có thể tạo ra mưa axit gây tác hại rất lớn đối với cây trồng, sinh vật sống trong hồ ao, sông ngòi, phá huỷ các công trình xây dựng, các tượng đài, các di tích lịch sử văn hóa....

Ô nhiễm môi trường nước

Back to Top
Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật.

* Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước :

Có thể do nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo:
- Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên là do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt...Nước mưa rơi xuống mặt đất, mái nhà, đường phố, đồng ruộng, khu công nghiệp....kéo theo các chất bẩn xuống sông, ao, hồ gây ô nhiễm môi trường nước.
- Sự ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo chủ yếu do nước thải từ các vùng dân cư, khu công nghiệp, hoạt động giao thông, phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ trong sản xuất nông nghiệp vào môi trường nước.
Các dạng gây ô nhiễm môi trường nước có thể diễn ra thường xuyên hoặc tức thời do các sự cố rủi ro, hay đột biến của thiên nhiên.
Tác nhân hóa học gây ô nhiễm môi trường nước có thể bao gồm các ion kim loại nặng, các anion NO3-. PO43-. SO42-...một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học sẽ bị ngấm vào nước ruộng, ao hồ sông ngòi lan truyền và tích luỹ làm ô nhiễm môi trường nước.

*. Tác hại của ô nhiễm môi trường nước:

Tuỳ theo mức độ ô nhiễm khác nhau, các chất gây ô nhiễm có tác hại khác nhau đến sự sinh trưởng, phát triển của động, thực vật, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Chẳng hạn,kim loại nặng và các chất nguy hại khác chậm phân huỷ sẻ tích luỹ theo thức ăn vào cơ thể động vật và người gây nên những tác hại cho sức khoẻ các loại vi khuẩn, kí sinh trùng, sinh vật gây bệnh theo nguồn nước bị ô nhiễm lan truyền bệnh cho người và động vật. Hoạt động thăm dò và khai thác dầu, hiện tượng rò rĩ dầu từ các dàn khoan, hiện tượng tràn dầu trên biển cả là những sự cố gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng đe doạ sự sống trong một phạm vi rộng

Ô nhiễm môi trường đất

Back to Top
Đất là một hệ sinh thái, bình thường hệ sinh thái đất ở trạng thái cân bằng. Tuy nhiên khi có mặt một số chất và hàm lượng của chúng vượt quá giới hạn thì hệ sinh thái đất sẽ mất cân bằng và môi trường đất bị ô nhiễm.

Nguồn gây ô nhiễm đất có thể do:

- Nguồn gốc tự nhiên: như núi lửa, ngập úng, đất bị mặn do thuỷ triều xâm nhập, đất bị vùi lấp do cát…
- Nguồn gốc do con người: tác nhân hóa học gây ô nhiễm môi trường đất do các chất thải nông nghiệp như sử dụng phân bón hóa học, chất bảo vệ thục vật và chất kích thích sinh trưởng, chất thải sinh hoạt...
Ô nhiễm đất do kim loại nặng là nguồn ô nhiễm nguy hiểm đối với hệ sinh thái đất. Trong thực tế kim loại nặng với hàm lượng thích hợp rất cần cho sự sinh trưởng và phát triển của động, thực vật và con người, nhưng nếu chúng tích luỹ nhiều trong đất thì rất độc hại

Ô nhiễm môi trường đất gây ra những tổn thất lớn trong đời sống và sản xuất

Người ta ước tính chỉ khoảng 50% nitơ bón vào đất được cây trồng hấp thụ, lượng còn lại gây ô nhiễm môi trường đất, chúng làm thay đổi thành phần và tính chất đất làm đát chai cứng hoặc đất bụ chua. Các chất trừ sâu diệt cỏ phân huỷ trong nước rất chậm tạo ra lượng dư đáng kể trong đất và lôi cuốn vào chu trình: đất-cây-động vật-người gây ra những tác hại khó lường

Vậy làm thế nào để nhận biết môi trường bị ô nhĩêm:

Có thể nhận biết môi trường bị ô nhiễm bằng nhiều cách:
Như quan sát: nhận biết môi trường nước và không khí bị ô nhiễm qua mùi, màu sắc. Ví dụ như nước bị ô nhiễm thường có mùi, có màu hoặc không trong suốt.
Nhiều ao hồ, sông ngòi đang bị ô nhiễm do nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp đổ vào đang là thách thức rất lớn về môi trường đối với chúng ta
Hoặc xác định môi trường bằng các dụng cụ đo: dùng máy sắc kí, các phương tiện đo lường để xác định thành phần khí thải từ các nhà máy.

Vậy vai trò của hóa học trong việc xử lí chất gây ô nhiễm môi trường:

Có nhiều phương pháp khác nhau để xử lí chất gây ô nhiễm môi trường.Nhưng nguyên tác chung là phài sử dụng các biện pháp phù hợp với thành phần các chất gây ô nhiễm cần xử lí, phù hợp với từng lĩnh vực, phạm vi cần xử lí, chẳng hạn:
Trong sản xuất nông nghiệp: để hạn chế tác dụng gây ô nhiễm môi trường cần phải sử dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích đúng quy định, đúng quy trình.
Trong sản xuất công nghiệp: phải tuân thủ quy trình xử lí chất thải thải, như xử lí khói bụi, xử lí nước thải của các nhà máy trước khi thải ra sông ngòi, hồ ao, biển.
Trong các cơ sở nghiên cứu phàng thí nghiệm trường học phải xử lí, phân loại các chất thải sau khi thí nghiệm để xử lí trước khi thải ra môi trường.
Trong các khu dân cư đô thị: rác thải phải được thu gom, phân loaqị xử lí để thu hồi, tái chế chống ô nhiễm môi trường.

Một số phương pháp xử lí chất thải gây ô nhiễm môi trường

Back to Top
Phương pháp hấp thụ : nguyên tắc cơ bản của phương pháp này là hấp thụ khí thải bằng nước, dung dịch xút hoặc dung dịch axit trong tháp hấp thụ sau đó tái sinh hoặc không tái sinh dung dịch đã hấp thụ
Phương pháp hấp thụ than bùn, phân rác, đất xốp, than hoạt tính: nguyên tắc của phương pháp này là chất thải có các chất gây ô nhiễm được hấp thu trong lớp đệm than bùn, đất xốp....sau đó phân huỷ bằng phương pháp sinh hóa.
Ngoài ra phải giáo dục ý thức bảo vệ môi trường phải thưc hiện trong nhà trường một cách hệ thống thường xuyên, bằng nhiều biện pháp phù hợp
Tham gia trồng nhiều cây xanh, biết phân loại rác thải đúng cách, hoặc khi làm thí nghiệp hóa học với lượng chất nhỏ để vừa tiết kiệm hoá chất vừa không tạo ra lượng chất thải lớn. Phải thực hiện nghiêm túc những quy định sử dụng hóa chất trong phòng thí nghiệm, không để hóa chất thất thoát ra môi trường.
Bảo vệ môi trường không phải chỉ học một lần mà học suốt đời, từ tuổi thơ ấu đến lúc trưởng thành, không phải chỉ với một người mà là của cả cộng đồng.

Phần 2: Bài tập và câu hỏi hóa môi trường, hóa học đời sống

Hóa Học Với Ứng Dụng Trong Đời Sống

Back to Top
Bài 1: Sử dụng bài tập này để nghiên cứu bài H2O2
Những bức tranh cổ được vẽ bằng bột trắng chì [(PbCO3, Pb(OH)2] lâu ngày bị hóa đen trong không khí.
- Vì sao những bức tranh cổ này bị hóa đen?
- Để phục hồi người ta dùng hóa chất gì?
Phân tích
Những bức tranh cổ này lâu ngày bị hóa đen là do muối chì tác dụng với các vết khí H2S trong khí quyển tạo thành PbS màu đen(H2S đựợc tạo ra khi đốt cháy nhiên liệu lưu huỳnh tác dụng với oxi tạo thành họp chất của lưu huỳnh hoặc xác động vật bị thối rửa).
PbCO3 + H2S → PbS + CO2 + H2O (quá trình xảy ra rất chậm)
Pb(OH)2 + H2S → PbS+ 2H2O
Để phục hồi bức tranh cổ này, người ta sử dụng H2O2 (nước oxi già) để chuyển màu đen của PbS thành màu trắng của PbSO4.
PbS + H2O2 → PbSO4 + 4H2O
Qua bài này học sinh lĩnh hội được kiến thức: H2S có tính axit, H2O2 có tính oxi hóa, S-2 có tính khử mạnh.
Bài 2: Dùng để nghiên cứu bài H2S
Theo cách chữa bệnh dân gian, khi một người bị trúng gió sẽ được cao gió bằng cách sử dụng đồng tiền hoặc muỗng thìa bằng bạc để đánh gió bằng cách cạo trên xương sống. Sau khi cạo gió các dụng cụ này sẽ bị xám đen tương tự như khi chúng ta đã được dùng rất lâu ngày trong không khí. Hãy giải thích hiện tượng trên?
Phân tích
Không khí thường bị nhiễm bẩn khí H2S, dụng cụ bằng Ag bị hóa màu đen là do có phản ứng:
4Ag + 2H2S + O2 → 2Ag2S +2H2O
Người bệnh (trúng gió) sẽ thải ra nhiều khí H2S qua lỗ chân lông, khi dùng dụng cụ bằng Ag chà xát trên da làm cho lỗ chân lông thoáng hơn để khí H2S thoát ra dễ dàng, làm người bệnh dễ chịu. Ag tiếp xúc với khí này và với oxi sẽ bị hóa đen theo phản ứng trên.
Qua bài này học sinh thấy được rằng H2S là một khí độc, nếu hàm lượng H2S đi vào cơ quá mức sẽ gây tử vong vì khi đi vào máu, máu hóa đen do tạo ra FeS làm cho hemoglobin của máu chứa ion Fe2+ bị phá hủy.
H2S + Fe2+(trong hemoglobin) → FeS + 2H+
Bài 3: Sử dụng câu hỏi khi nghiên cứu bài axit cacboxylic
Khi bị ong, muỗi, kiến đốt người ta bôi chất gì lên chỗ da bị đốt? Giải thích vì sao?
Phân tích
Khi ong, muỗi, kiến đốt chúng tiết ra chất hóa học đó là axit fomic (HCOOH). Chất này làm cho chúng ta bị ngứa và nhức. Vậy người ta bôi Ca(OH)2 lên chỗ da bị đốt. Phương trình hóa học xảy ra
2HCOOH + Ca(OH)2 → (HCOO)2Ca + 2H2O
Như thế lượng HCOOH bị trung hòa hết. Axit HCOOH còn được gọi là axit kiến.
Bài 4: Giáo viên sử dụng câu hỏi này khi nghiên cứu bài muối của nhôm trong chương trình hóa học lớp 12.
a. Tại sao phèn chua có thể làm trong nước đục?
b. Vì sao khi đựng nước vôi bằng chậu nhôm thì chậu sẽ bị thủng?
Phân tích
a. Phèn chua là muối kép sunphat có vị chát, không độc ở dạng tinh thể ngậm nước có công thức Al2(SO4)3.K2SO4.24H2O.
Khi hòa tan muối này vào nước xảy ra các quá trình sau:
Al2(SO4)3.K2SO4.24H2O → 2Al3+ + 4SO42- + 2K+ + 24H2O
Sau đó xảy ra phản ứng thủy phân:
Al3+ + 3HOH → Al(OH)3 + 3H+
Chính những hạt kết tủa dạng keo lơ lững ở trong nước kết dính những hạt bụi bẩn, các hạt đất nhỏ ở trong nước càng ngày hạt keo này lớn dần lên và lắng chìm xuống. Vì thế, người ta dùng phèn chua để làm trong nước đục.
b. Al và Al2O3, Al(OH)3 có phản ứng với dung dịch bazơ. Chậu nhôm sẽ thủng vì có các phương trình hóa học xảy ra
Đầu tiên có phản ứng
Al2O3 + Ca(OH)2 → Ca(AlO2)2 +H2O(1)
Tiếp sau đó
3Al + 3H2O → Al(OH)3 + 3H2(2)
Phản ứng này ngừng lại khi kết tủa Al(OH)3 vừa xuất hiện
Sau đó
2Al(OH)3 + Ca(OH)2 → Ca(AlO2)2 + 4H2O(2)
Các phản ứng xảy ra xen kẻ với nhau vì thế chậu nhôm bị thủng
Bài 5: Sử dụng câu hỏi này dùng để nghiên cứu bài Chất dẻo- Tơ
Làm thế nào để phân biệt được lụa sản xuất từ tơ Visco(tơ nhân tạo) với tơ tằm(tơ nhiên nhiên).
Phân tích
Tơ tằm khi đốt sợi tơ co lại thành cục, cháy có mùi khét như đốt tóc và bị vón lại thành cục nhỏ màu nâu đen, lấy ngón tay bóp thì tan (dưới tác dụng của nhiệt, protit trong tơ tằm phân hủy thành những chất có mùi khét). Còn tơ nhân tạo như tơ visco thì khi đốt không có mùi khét.
Qua bài tập này học sinh biết cách phân biệt tơ tự nhiên và tơ nhân tạo.
Bài 6: Sử dụng câu hỏi này để nghiên cứu bài phenol
Để rửa sạch ống nghiệm có dính phenol tại sao người ta không dùng nước mà dung dung dịch Na2CO3?
Phân tích
Phenol ít tan trong nước lạnh vì thế dùng nước thì rửa không sạch ống nghiệm.
Dung dịch Na2CO3 có tính kiềm mạnh mà phenol lại là một axit vì thế có phản ứng xảy ra giữa dung dịch Na2CO3 với phenol
Qua bài này học sinh lĩnh hội được những kiến thức:
- Phenol ít tan trong nước lạnh
- Phenol có tính axit yếu
-Biết làm việc khi tiếp xúc với phenol (phenol rất độc).
Bài 7: Sử dụng khi nghiên cứu bài Clo
Tại sao nước máy lại có mùi clo? Vì sao không dùng nước máy để tưới cây cảnh?
Phân tích
Khi sục vào nước lượng nhỏ khí Clo thì có phương trình hóa học của phản ứng xảy ra như sau:
HClO có tính oxi hóa mạnh nên có khả năng diệt khuẩn. Trong nước vẫn còn lượng nhỏ clo nên nước máy có mùi clo.
Khi dùng nước máy tưới cây cảnh thì trên lá cây xuất hiện những đóm trắng và làm rụng lá vì chất diệp lục trên lá bị oxi hóa bởi lượng HClO trong nước máy. Do vậy không dùng nước máy để tưới cây, hoa cảnh.

Hóa Học Với Sức Khỏe

Back to Top
Bài1: Sử dụng bài tập này khi nghiên cứu bài học Canxi và hợp chất của canxi trong chương trình hóa học lớp 12.
a. Nguyên nhân nào gây ra bệnh loãng xương? Tại sao người bệnh loãng xương lại phải nên uống loại sữa dành riêng?
b. Khi nhóm bếp than ta nhúng than vào nước vôi trong rồi phơi trước khi nung, làm như vậy được lợi ít gì?
c. Tại sao người ăn trầu thường có hàm răng rất chắc?
d. Các loại trứng gia cầm dù có dính bùn đất hoặc bị bẩn cũng không nên rửa sạch vì sẽ làm cho trứng dễ bị hỏng. Để bảo quản trứng lâu, không bị hư người ta nhúng trứng vào nước vôi trong. Hãy giải thích tại sao?
Phân tích
a. Bệnh loãng xương là do sự thiếu hụt canxi trong máu dẫn đến nguy cơ là mô xương bị mòn và mỏng dần, rất dễ bị gãy khi té ngã.
Người bệnh loãng xương phải uống loại sữa dành riêng vì những loại sữa đó có hàm lượng canxi cao hơn loại sữa bình thường để bù lại lượng canxi thiếu hụt.
b. Khi đốt than sinh ra lượng khí CO2 theo phương trình hóa học
C + O2 → CO2 . Ca(OH)2 sẽ hấp thụ lượng khí CO2 sinh ra vì thế sẽ làm giảm khói sinh ra
Phương trình hóa học của phản ứng.
Ca(OH)2 +CO2 → CaCO3 + H2O
c. Răng được bảo vệ bởi lớp men răng cứng và hợp chất Ca5(PO4)3OH và được tạo thành bằng cân bằng:
Ca5(PO4)3OH ⇔ Ca5(PO4)3+ + OH-
Do trong vôi có Ca2+ và OH- nên cân bằng trên chuyển dịch theo chiều thuận tạo men răng.
d. Trên bề mặt trứng có nhiều lỗ nhỏ, khi ta rửa trứng chúng làm cho lớp keo mỏng bảo vệ trên bề mặt vỏ trứng bị rửa rôi. Vỏ trứng bị phá bỏ lớp bảo vệ nên các vi khuẩn dễ dàng xâm nhập vào làm hỏng trứng.
Để bảo quản trứng lâu, không bị hư người ta nhúng trứng vào nước vôi trong. Nước vôi trong có tính sát trùng, ngoài ra chúng phản ứng với khí CO2 thoát ra trong quá trình hô hấp, tạo thành CaCO3.
CO2 + Ca(OH)2 → CaCO3 + H2O
Chính CaCO3 bịt kín các lỗ nhỏ trên bề mặt vỏ trứng và vi khuẩn không đột nhập vào trứng
Bài 3: Sử dụng để nghiên cứu bài hợp chất của kim loại kiềm
Vì sao muối NaHCO3 dùng để chữa bệnh đau dạ dày?
Phân tích
Trong dạ dày có chứa dung dịch axit HCl. Người bị đau dạ dày là người có nồng độ dung dịch axit HCl cao làm dạ dày bị bào mòn. NaHCO3 dùng để làm thuốc trị đau dạ dày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ có phản ứng hóa học.
NaHCO3 +HCl → NaCl +CO2 + H2O
Bài 4: Dùng bài tập này khi giảng dạy bài axit cacboxylic chương trình hóa học lớp 11.
Vì sao khi ăn trái cây không được đánh răng ngay?
Phân tích
Các nhà khoa học khuyến cáo rằng ăn trái cây thì phải một tiếng đồng hồ sau mới đánh răng vì chất chua (axit hữu cơ) trong trái cây sẽ kết hợp với những thành phần trong thuốc đánh răng theo bàn chải sẽ tấn công các kẽ răng và làm tổn thương lợi. Bởi vậy phải đợi đến khi lượng nước bọt trung hòa axit trong trái cây nhất là táo, cam, nho, chanh. Ta đã biết thức ăn vào dạ dày phải lưu giữ lại 1-2 giờ. Nếu sau bữa ăn ta ăn ngay trái cây sẽ làm tăng thêm sự lưu trệ trong dạ dày không tốt cho sức khỏe.
Bài 5: Dùng bài tập này khi giảng dạy bài amin hóa học lớp 12
a. Làm cá bớt tanh bằng phương pháp nào?
b. Melamin có công thức C3N3(NH2)3. Đưa melamin vào thực - phẩm nhằm mục đích gì? Nêu một số tác hại mà melamin gây nên?
Phân tích
Khi nấu canh cá thì cho thêm chất chua (me, giấm......) để làm giảm mùi tanh của cá. Chất chua (axit lactic có trong nước dưa, me, axit axetic có trong giấm, axit xitric có trong chanh...) nâng cao hương vị và khử mùi tanh của cá. Trong chất tanh của cá có chứa các amin [ (CH3)2NH và (CH3)3N] có tính bazơ yếu, các chất chua dùng để nấu canh cá đều là các axit hữu cơ, chúng phản ứng với các amin tạo thành muối. Do vậy làm giảm hoặc làm mất vị tanh.
Phương trình hóa học của phản ứng
(CH3)2NH + H+ → (CH3)2NH2+
(CH3)3N + H+ → (CH3)3NH+
b. Melamin có công thức C3N3(NH2)3. Đưa melamin vào thực - phẩm nhằm mục đích gì? Nêu một số tác hại mà melamin gây nên?
Trong công thức melamin có 66% là nitơ. Đưa melamin vào thực phẩm thì khi kiểm nghiệm sẽ cho chỉ số nitơ toàn phần cao làm cho người ta hiểu lầm là lượng đạm cao nhưng đây chỉ là lượng đạm cao “giả” (vì nitơ trong melamin không có tính dinh dưỡng như nitơ trong protein thật). Có hai cách đưa melamin vào thực phẩm:
+ Trộn melamin vào các bột gạo protein (có tiêu chuẩn hàm lượng protein cao, gọi là gluten) để làm thức ăn cho chó mèo, gia súc (phát hiện tháng 4-2007 tại Mỹ).
+ Cho melamin vào nước, tạo ra một hỗn dịch giống sữa, rồi trộn với sữa tươi sẽ làm tăng lượng sữa tươi lên, rồi đem bán cho nhà máy sản xuất sữa bột. Melamin có trong sữa bột sẽ làm tăng cân nặng của sữa bột (phát hiện năm 2008, tại Trung Quốc).
Có rất ít công trình nghiên cứu về độc hại của melamin. Với người: Trẻ em chức năng thận còn chưa hoàn chỉnh, melamin sẽ làm cho trẻ em bị sỏi thận và có thể tử vong (nếu trẻ quá nhỏ và melamin tích tụ nhiều). Người lớn ít bị độc hơn trẻ nhưng cũng có thể phá hủy bộ máy sinh sản, gây suy thận, sỏi thận.
Bài 6: Sử dụng câu hỏi này để nghiên cứu bài kim loại trong chương trình hóa học lớp 12.
Vì sao dùng đồ bằng bạc đựng thức ăn, thức ăn lâu bị ôi?
Phân tích
Do Ag tác dụng với O2 và vết H2S trong không khí tạo thành hợp chất Ag2S kết tủa màu đen. Ag2S gặp nước sẽ có một lượng rất nhỏ đi vào nước thành ion Ag+. Ion Ag+ có tác dụng diệt khuẩn rất mạnh. Chỉ cần 1/5 tỉ gam Ag trong một lít nước cũng đủ diệt vi khuẩn. Vì thế vi khuẩn không thể phát triển nên thức ăn lâu bị ôi.
Phương trình hóa học của các phản ứng xảy ra:
2H2S + O2 +4Ag → 2Ag2S + 2H2O
Ag2S⇔2Ag+ + S2-
Bài7: Dùng bài tập này để nghiên cứu bài ozon chương trình hóa học lớp 10.
a. Vì sao sử dụng máy photocopy phải chú ‎ đến việc thông gió?
b. Vì sao sau cơn mưa giông thì không khí trở nên trong lành, dễ chịu?
c. Tại sao người ta trồng thông ở các bệnh biện?
Phân tích
a. Khi máy potocopy hoạt động thường xảy ra hiện tượng phóng điện cao áp nên sinh ra khí O3 theo phương trình hóa học
3O2⇔2O3
Khí O3 có nồng độ cao sẽ nguy hiểm cho sức khỏe, gây tổn hại cho đại não, gây đột biến, quấy thai, ung thư……
b. Trong cơn giông có hiện tượng sấm sét kèm theo vì thế một lượng khí O3 được sinh ra theo phương trình hóa học sau
3O2⇔2O3
Khí O3 sinh ra làm sạch các khí bẩn có trong không khí, oxi hóa được các vi sinh vật gây bệnh có trong không khí. Mặt khác, khi trời mưa thì các hạt bụi sẽ bị lôi luốn bởi nước mưa và rơi xuống đất. Vì thế sau cơn mưa giông bầu không khí trở nên trong lành, dễ chịu.
c. Bệnh viện nơi mà ở đó mật độ vi khuẩn gây bệnh phát tán trong không khí rất cao. Vì thế, người ta trồng thông ở trong khuôn viên bệnh viện. Bời vì, nhựa của cây thông tiết ra O3 sẽ oxi hóa các vi sinh vật gây bệnh và làm cho không khí ở trong khu vực bệnh viện trở nên trong lành.
Bài 8: Sử dụng bài tập này để nghiên cứu bài ancol chương trình hóa học lớp 11
a. Cách cảnh sát giao thông đo độ cồn của người điều khiển phương tiện giao thông?
b. 3- MCPD là chất gây ung thư có trong một số loại nước tương, tên hóa học là 3-monoclo propan -1,2 – điol. Viết CTCT của 3- MCPD
Phân tích
Cách đơn giản để đo nồng độ rượu của người điều khiển phương tiện giao thông như sau:
Cảnh sát lấy hơi của người đó cho vào dụng cụ chứa sẵn hỗn hợp K2Cr2O7 và H2SO4
Nguyên tắc của phương pháp này là dựa trên sự oxi hóa etanol có trong hơi thở bởi K2Cr2O7 và H2SO4. Áp suất riêng phần của etanol trong hơi thở của người lái xe tỉ lệ thuận với với hàm lượng etanol trong máu.
Phương trình hóa học của phản ứng xảy ra
3CH3CH2OH + 2K2Cr2O7 + 8H2SO4 → 3CH3COOH + 2Cr2(SO4)3 + 2K2SO4 + 8H2O( màu lục)
Xác định cường độ của màu lục sẽ suy ra được hàm lượng ancol sẽ bị oxi hóa.
Uống nhiều rượu không có lợi cho sức khỏe có thể gây ra những bệnh tật. Nhiều vụ tai nạn giao thông xảy ra do người điều khiển phương tiện giao thông có nồng độ cồn vượt quá mức cho phép của bộ y tế.
b. Công thức cấu tạo của 3-MCPD
Qua bài này học sinh biết được công thức hóa học của 3-MCPD và trong một số loại nước tương có chứa chất 3-MCPD gây ung thư từ đó biết lựa chọn những loại nước tương an toàn cho sức khỏe.
Bài 9: Sử dụng bài tập này để nghiên cứu bài phân bón hóa học chương trình lớp 11.
Urê là loại hóa chất không được phép sử dụng bảo quản thực phẩm. Với hàm lượng nhỏ, nó có thể gây ngộ độc thực phẩm và nếu tích lũy lâu ngày dẽ gây ra ung thư.
a. Viết phương trình phản ứng điều chế Urê trong công nghiệp ?
b.Vì sao Urê lại được sử dụng làm chất bảo quản thực phẩm?
c. Với hàm lượng urê quá mức cho phép sẽ gây ngộ độc thực phẩm. Người ta cho thêm urê vào nước mắm với mục đích gì:
A. Tăng độ đạm C. Tạo màu
B. Bảo quản nước mắm D. Tăng thể tích
Phân tích
a. Phản ứng điều chế urê trong công nghiệp
2NH3 + CO2 → (NH2)2CO + H2O
b. Khi urê hòa tan trong nước, nó thu một lượng nhiệt khá lớn, vì vậy làm lạnh môi trường xung quanh (sự hòa tan thu nhiệt), nhờ vậy ngăn cản khả năng hoạt động của vi sinh vật. Một số người buôn bán đã lợi dụng tính chất này để bảo quản thịt, cá được tươi lâu
c. Do chứa hàm lượng nitơ cao nên người ta cho thêm urê vào để tăng độ đạm.

Hóa Học Với Việc Bảo Vệ Môi Trường

Back to Top
Bài 1: Sử dụng bài tập này để nghiên cứu bài Oxi chương trình lớp 10.
Ban đêm không nên để nhiều cây xanh trong nhà?
Phân tích
Do ban đêm không có ánh sáng cây không quang hợp, chỉ hô hấp nên hấp thụ khí O2 và thải khí CO2 làm cho phòng thiếu khí O2 và quá nhiều khí CO2
Ban ngày do có ánh sáng mặt trời nên cây quang hợp, hấp thụ khí CO2 và giải phóng khí O2.
Phương trình hóa học của phản ứng quang hợp.
Bài 2: Dùng để nghiên cứu bài hợp chất của cacbon trong chương trình hóa học lớp 11.
Trong khói thuốc lá có 0, 5 đến 1% CO, chất gây ô nhiễm môi trường, gây tác hại cho sức khoẻ. Phương pháp nào sau đây dùng chứng minh điều đó?
A. Cho khói thuốc qua CuO, t0.
B. Cho khói thuốc qua dung dịch PdCl2.
C. Cho khói thuốc qua MnO2, rồi cho sản phẩm qua nước vôi trong.
D. Cho khói thuốc lá qua I2O5.
Phân tích
Cho CO qua dung dịch PdCl2 làm đổi màu dung dịch sang đỏ thẫm do những hạt rất nhỏ của Pd tách ra trong dung dịch.
Phương trình hóa học của phản ứng:
CO + PdCl2 + H2O → Pd + 2HCl + CO2
Bài3: Dùng để nghiên cứu bài phân bón hóa học ở chương trình hóa học lớp 11.
a. Khi bón phân hoá học cho đất, loại nào sau đây không ảnh hưởng đến pH của đất?
A. NH4NO2 B. (NH2)2CO C. NH4Cl D. Cả A, B, C.
b.Cây trồng hấp thu hiệu quả lượng chất dinh dưỡng từ phân bón thì tránh được sự dư thừa trong đất gây ô nhiễm và ngộ độc rau quả. Bón phân đúng thời điểm làm tăng hiệu quả hấp thu của cây trồng. Thời điểm nào sau đây là thích hợp để bón phân ure cho lúa?
A. Buổi sáng sớm.
B. Buổi trưa nắng.
C. Buổi chiều vẫn còn ánh nắng.
D. Buổi chiều tối, mặt trời vừa lặn.
Phân tích
NH4NO3 ⇋ NH4+ + NO3-
NH4+ + H2O ⇋ NH3 + H3O+ pH < 7
NH4Cl → NH4+ + Cl¯
NH4+ + H2O ⇋ NH3 + H3O+ pH < 7
(NH2)2CO + 2H2O → (NH4)2CO2 (1)
(NH4)2CO3 → 2NH4+ + CO32-(2)
NH4+ + H2O ⇋ NH3 + H3O+ CO32- + H2O ⇋ HCO3¯ + OH¯ (4)
Do: [H3O+](3) ≈ [OH¯](4) pH ≈ 7
=>Chọn phương án B.
b. Cây hấp thụ đạm ure dưới dạng ion NH4+ và đạm dễ phân huỷ dưới ánh sáng mặt trời. Vì thế, muốn bón đạm cho lúa thì cần có nước và nhiệt độ thích hợp nên phải bón đạm lúc chiều tối khi tắt ánh sáng mặt trời, đêm sương xuống cây sẽ hấp thụ đạm tốt.
(NH2)2CO + H2O→(NH4)2CO3
(NH4)2CO3 → 2NH4+ + CO32-
Bón buổi sáng sớm sương còn đọng trên lá khi đó cây chưa hấp thụ đạm được nhiều thì ánh sáng mặt trời phân huỷ một lượng đạm đáng kể. Còn buổi tưa nắng hoặc chiều vẫn còn ánh nắng thì đạm bị phân huỷ dưới ánh sáng mặt trời và cây bị héo.
Bài 4: Sử dụng bài tập này để nghiên cứu bài Photpho hóa học lớp 11
a) Thành phần của thuốc diệt chuột là Zn3P2. Nếu không quản lí được thuốc khi sử dụng, để lâu ngày trong không khí ẩm sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường do phản ứng thuỷ phân sinh ra PH3 là chất khí không màu, mùi trứng thối. Hãy viết phương trình phản ứng xảy ra?
b) Thuốc diệt chuột loại này thường có lẫn tạp chất là kẽm kim loại. Hoà tan một ít thuốc bằng dung dịch HCl dư thì thu được hỗn hợp khí có tỉ khối so với H2 bằng 15, 435. Viết phương trình phản ứng xảy ra, tính % khối lượng Zn tạp chất có trong thuốc.
Phân tích

Bài 5: Dùng để nghiên cứu bài axit nitric hóa học lớp 11
Khi làm các thí nghiệm giữa HNO3 đặc nóng với Fe, Cu, P, S cần tiến hành như thế nào để đảm bảo an toàn và không ảnh hưởng đến môi trường? Viết phương trình hóa học của phản ứng xảy ra.
Phân tích
Khi làm các thí nghiệm trên cần lấy lượng hoá chất cần thiết không quá 1/3 ống nghiệm, phản ứng có khí độc thoát ra cần làm ở trong tủ hút hoặc nơi thoáng khí, trên miệng ống nghiệm cần nút bông tẩm dung dịch kiềm NaOH, xử lí sản phẩm sau phản ứng trước khi thải: trung hoà axit sau phản ứng H3PO4, đổ bỏ đúng nơi quy định.
Phương trình phản ứng:
M + 2nHNO3 đặc → M (NO3)n + nNO2 + nH2O
P + 5HNO3 đặc → H3PO4+ 5NO2 + H2O
S + 4HNO3 đặc → SO2+ 4NO2 + 2H2O
Khí sinh ra bị hấp thụ bởi dung dịch kiềm theo phương trình:
2NO2 + 2NaOH → NaNO2 + NaNO3 + H2O
SO2 + 2NaOH → Na2SO3 + H2O
Bài 6: Sử dụng khi nghiên cứu bài một số hợp chất quan trọng của canxi
Nêu phương pháp để loại bỏ một lượng lớn khí SO2, NO2, HF trong khí thải công nghiệp.
Phân tích
Dùng nước vôi trong dẫn khí thải qua bể nước vôi trong, khí độc sẽ bị giữ lại. Do:
SO2 + Ca(OH)2→CaSO3 + H2O
4NO2 + 2Ca(OH)2→Ca(NO3)2 +Ca(NO2)2 + 2H2O
2HF + Ca(OH)2→CaF2 +2H2O

Hóa Học Với Nghành Sản Xuất Công nghiệp, Nông Nghiệp

Back to Top
Bài 1: Sử dụng bài tập này để nghiên cứu bài phân bón hóa học
Vì sao không trộn phân đạm một lá (NH­4)2SO4, hai lá NH4NO3 hoặc với nước tiểu với vôi Ca(OH)2 hay tro bếp (hàm lượng K2CO3 cao) đều bị mất đạm?
Phân tích
Do có các phản ứng hóa học xảy ra làm thất thoát NH3
(NH­4)2SO4 + Ca(OH)2→ 2NH3 +CaSO4 + 2H2O
(NH­4)2SO4 + K2CO3→ 2NH3 + K2SO4 + H2O + CO2
2NH4NO3 + K2CO3→ 2NH3 +2KNO3 + H2O +CO2
Nước tiểu chứa hàm lượng ure CO(NH2)2, vi sinh vật hoạt động chuyển ure thành(NH4)2CO3.
Phương trình hóa học của các phản ứng
CO(NH2)2 + 2H2O→(NH4)2CO3
(NH4)2CO3 phản ứng với Ca(OH)2 và bị phân hủy khi trời nắng
(NH4)2CO3 + Ca(OH)2 →2NH3 +CaCO3 + 2H2O
(NH4)2CO3 ⇋ NH3 + NH4HCO3
Bài 2: Sử dụng bài tập này khi nghiên cứu bài ăn mòn kim loại
Vì sao bảo vệ vỏ tàu biển bằng thép, người ta gắn các tấm Zn vào phía ngoài vỏ tàu ở phần chìm trong nước biển?
Phân tích
Khi thép và kẽm ở trong cùng nước biển thì xuất hiện cặp pin hóa học và có sự ăn mòn điện hóa. Zn là điện cực âm, thép là điện cực dương và nước biển là dung dịch chất điện li. Trong quá trình ăn mòn điện hóa thì kẽm sẽ bị ăn mòn, do đó vỏ tàu biển được bảo vệ.
Bài3: Sử dụng khi nghiên cứu bài hợp chất của sắt
Vì sao ở những vùng gần các vỉa quặng pirit sắt FeS2, đất thường bị chua? Để khử chua cho đất người ta thường bón vôi trước khi canh tác. Giải thích và viết các phương trình hóa học xảy ra.
Phân tích
Ở những vùng gần các vỉa quặng pirit sắt FeS2, đất thường bị chua là do quá trình oxi hóa chậm FeS2 bởi oxi không khí sinh ra H2SO4 và Fe2(SO4)3.
4FeS2 +15O2 +2H2O → 2Fe2(SO4)3 +2H2SO4
Để khử chua đất người ta thường bón vôi trước khi canh tác
CaO + H2SO4→ CaSO4 +H2O
CaO +H2O→ Ca(OH)2
Fe2(SO4)3 + Ca(OH)2→ 2Fe(OH)3 + 3CaSO4
Bài 4: Sử dụng câu hỏi này khi nghiên cứu dạy bài hợp chất của Fe
Nhà máy nước thường khai thác xử lí nước ngầm để cung cấp nước sạch cho thành phố. Người ta thường tiến hành theo những cách sau đây
- Bơm nước ngầm cho chảy qua các dàn mưa.
- Sục khí oxi vào bể chứa nước ngầm
Giải thích cách làm trên
Phân tích
Trong nước ngầm thường có chứa sắt dưới dạng muối sắt (II) tan trong nước có ảnh hưởng không tốt đến chất lượng của nước. Để loại bỏ hợp chất sắt trong nước ngầm, các nhà máy nước sử dụng một hai cách trên, mục đích làm cho sắt (II) sẽ bị oxi hóa thành hợp chất sắt(III) ở dạng kết tủa, dễ bị tách loại.
4Fe2+ + O2 +10H2O→4Fe(OH)3 +8H+
Qua bài này học sinh củng cố kiến thức về hợp chất sắt (II) có tính khử.
Bài 5: Sử dụng bài tập này để nghiên cứu bài công nghiệp slicat chương trình hóa học lớp 11 nâng cao.
Sau khi đổ bê tông được 24 giờ, người ta thường phun hoặc ngâm nước để bảo dưỡng bê tông. Giải thích việc làm đó và viết phương trình hóa học của các phản ứng.
Phân tích
Sau khi đổ bê tông được 24 giờ, người ta ngâm hoặc phun nước để bảo dưỡng bê tông vì đông cứng của xi măng chủ yếu là sự kết hợp của các hợp chất trong xi măng với nước, tạo nên những tinh thể hydrtate đan xen nhau thành khối cứng và bền:
3CaO.SiO2 + 5H2O→Ca2SiO4.4H2O + Ca(OH)2
Ca2SiO4 +4H2O→Ca2SiO4.4H2O
Ca3(AlO3)2 +6H2O→Ca3(AlO3)2.6H2O

Các câu hỏi khác

Back to Top
Câu 1:Tại sao không đựng dung dịch HF trong bình đựng bằng thủy tinh?
Dung dich HF, tuy là axit yếu như­ng có tính chất đặc biệt là ăn mòn đ­ược thuỷ tinh. Do thành phần của thuỷ tinh chính là SiO2, khi cho dung dịch HF vào thì có phản ứng:
Câu 2 Cao dao Việt Nam có câu: “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ,
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Câu này mang hàm ý của khoa học hoá học như­ thế nào?
Câu ca dao nhắc nhở ng­ười làm lúa: Vụ chiêm khi lúa đang trổ đòng đòng mà có trận m­ưa rào, kèm theo sấm chớp thì sẽ rất tốt và cho năng suất cao sau này.
Do trong không khí có ~ 80% khí N2 và ~ 20% khí O2, khi có chớp (tia lửa điện) sẽ tạo điều kiện cho N2 hoạt động:
Sau đó:
Khí NO2 sẽ tan vào trong n­ước mư­a:
Nhờ hiện tư­ợng này, hàng năm làm tăng 6 − 7 kg N cho mỗi mẫu đất. Ngày nay, ng­ười ta đã điều chế Ure [(NH2)2CO] từ không khí để chủ động bón cho cây trồng.
Câu 3 Vì sao muối NaHCO3 được dùng để chế thuốc đau dạ dày?
Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl. Người bị đau dạ dày là người có nồng độ dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn. NaHCO3 dùng để chế thuốc đau dạ dày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản ứng:
Câu 4 Tại sao nư­ớc máy lại có mùi clo?
Khi sục vào nư­ớc một l­ượng nhỏ Clo vào nư­ớc có tác dụng sát trùng do clo tan 1 phần (gây mùi) và phản ứng 1 phần với nư­ớc:
Hợp chất HClO không bền có tính oxi hoá mạnh:
Oxi nguyên tử có khả năng diệt khuẩn.
Câu 5 Vì sao ban đêm không nên để nhiều cây xanh trong nhà?
Ban ngày, do có ánh sáng mặt trời nên cây xanh tiến hành quá trình quang hợp, hấp thụ CO2 và giải phóng khí O2.
Nhưng ban đêm, do không có ánh sáng mặt trời, cây xanh không quang hợp, chỉ có quá trình hô hấp nên cây hấp thụ khí O2 và thải ra khí CO2 làm cho phòng thiếu khí O2 và quá nhiều khí CO2.
Câu 6 Vì sao trong công nghiệp thực phẩm, muối (NH4)2CO3 được dùng làm bột nở?NH4)2CO3 được dùng làm bột nở vì khi trộn thêm vào bột mì, lúc nướng bánh thì (NH4)2CO3 sẽ bị phân hủy thành các chất khí và hơi nên làm cho bánh xốp và nở hơn.
Câu 7 Vì sao khi cơm khê người ta thường cho vào nồi cơm một mẩu than củi?
Do than củi xốp có tính hấp phụ, nên hấp phụ được mùi khét của cơm làm cho cơm đỡ mùi khê.
Câu 8 Tại sao khi đánh rơi nhiệt kế thủy ngân thì không được dùng chổi quét mà nên rắc bột S lên trên?
Thủy ngân (Hg) là kim loại ở dạng lỏng, dễ bay hơi và hơi thủy ngân là một chất độc. Vì vậy khi làm rơi nhiệt kế thủy ngân nếu như ta dùng chổi quét thì thủy ngân sẽ bị phân tán nhỏ, làm tăng quá trình bay hơi và làm cho quá trình thu gom khó khăn hơn. Ta phải dùng bột S rắc lên những chỗ có thủy ngân, vì S có thể tác dụng với thủy ngân tạo thành HgS dạng rắn và không bay hơi.
Câu 9:Vì sao các đồ vật bằng bạc để lâu ngày thường bị xám đen? Vì sao dùng đồ bằng bạc đựng thức ăn, thức ăn lâu bị ôi?
Do bạc tác dụng với khí O2 và H2S có trong không khí tạo ra bạc sunfua (Ag2S) màu đen.
Khi bạc sunfua gặp nước sẽ có một lượng rất nhỏ đi vào nước thành ion Ag+. Ion Ag+ có tác dụng diệt khuẩn rất mạnh, chỉ cần 1/5 tỉ gam bạc trong 1 lít nước cũng đủ diệt vi khuẩn. Không cho vi khuẩn phát triển nên giữ cho thức ăn lâu bị ôi thiu.
Câu 10:Tại sao khi ăn cơm nhai kỹ sẽ thấy vị ngọt?
Cơm chứa một lư­ợng lớn tinh bột, khi ăn cơm trong tuyến n­ước bọt của ngư­ời có các enzim. Khi nhai kỹ trộn đều, tuyến n­ước bọt làm tăng cơ hội chuyển hoá một lượng tinh bột theo phản ứng thuỷ phân thành mantozơ, glucozơ gây ngọt theo sơ đồ:
Câu 11:: Vì sao bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau?
Do trong nọc ong, kiến, nhện có axit hữu cơ tên là axit fomic (HCOOH). Vôi là chất bazơ nên trung hòa axit làm ta đỡ đau.
Quá trình thu gom thủy ngân cũng đơn giản hơn
--
Nguồn tham khảo: THPT hà đông,Nguyễn Thiên Hương.
Back to Top
Chúc các bạn một ngày vui vẻ-Chemistry study guide-Nghiên cứu và học tập hóa học, tài liệu hóa học, hóa học trung học phổ thông(THPT)
Đăng ký: Bài đăng (Atom)

Blog Tự Học Seo Online

Blog ra đời dưới sự thành lập của Đỗ Mạnh Hồng với mục đích chia sẻ những kiến thức giúp bạn tự học seo blog online chạy trên nền tản blogspot và website, cùng với đó chúng tôi còn chia sẻ tới các bạn những templates blogspot chuẩn seo, những thủ thuật đơn giản giúp bạn thao tác dễ dàng hơn trong phần quản trị Blogger. Với tiêu chí muốn gởi đến các bạn "SEO TỪ KHÓA LÊN TOP - KHÓ MÀ DỄ". Hãy cũng chúng tôi trao đổi và mong muốn được hỗ trợ các bạn nhiều hơn nữa.


Popular

  • Đề thi thử đại học môn Hóa 2015 và Lời giải chi tiết của Thầy Nguyễn Đình Độ
  • Bài tâp hóa vô cơ đại cương-Chuyên đề ôn thi HSG quốc gia
  • [Thí nghiệm hóa học] Hướng dẫn Điều chế Kali iodua từ Iot
  • 11 mẹo giải nhanh bài tập trắc nghiệm hóa học cực hay
  • Đề thi và HDC học sinh giỏi quốc gia môn hóa học năm 2004

SUBSCRIBE TO OUR NEWSLETTER

Copyright © 2015 Khamphablog.com All Right Reserved Tự học seo blog online cho người mới bắt đầu